XÉT XỬ CÔNG BẰNG LÀ G̀?
HƯỚNG DẪN CƠ BẢN VỀ NHỮNG TIÊU CHUẨN VÀ THỦ TỤC TỐ TỤNG
Chịu trách nhiệm dịch :
Luật Gia Nguyễn Hồng Quang
Mục Sư Phó Hội Trưởng kiêm Tổng Thư Kư Giáo Hội Tin Lành Mennonite.
Tốt Nghiệp Đai Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh (1995 - 1999).
Chủ nhiệm Uỷ Ban Pháp Luật Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Việt Nam.
Tháng 9 Năm 2003
Nhân Vụ Xử Án Hoa Việt Cường
Bản dịch tiếng Việt nầy dưọc phép của Lawyers’ Committee For Human Rights New York, New York
USA
© 2000 của Uỷ ban Luật sư về Nhân quyền Giữ Bản quyền Được in ở Hoa kỳ
Uỷ ban Luật sư về Nhân quyền
Từ năm 1978 Ủy ban Luật sư về Nhân quyền đă làm việc để xúc tiến luật về nhân quyền và người tị nạn quốc tế cùng những thủ tục pháp lư ở Hoa Kỳ và ở nước ngoài. Chủ tịch Uỷ ban là Luật sư William Zabel. Michael H. Posner là Giám đốc Điều hành. George Black là Giám đốc Nghiên cứu và Biên tập.
Tập sách hướng dẫn này do Jelena Pejic khởi soạn năm 1995. Nó đă được Vanessa Lesnie cập nhật năm 1999.
Các bản sao của Báo cáo này có sẵn ở:
Uỷ ban Luật sư về Nhân quyền
333 Đại lộ 7, tầng 13
New York, NY 10001 USA
Tel: (212) 845-5240
Fax: (212) 845-5299
e-mail: comm@lchr. org
100 Maryland Avenue, NE
Suite 500
Washington, DC 20002 USA
Tel: (202) 547-5692
Fax: (202) 543-5999
e-mail: wdc@lchr. org
www. lchr. org
www. witness. org
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
I. GIỚI THIỆU
II. TIÊU CHUẨN XÉT XỬ CÔNG BẰNG CƠ BẢN
NHỮNG QUYỀN TRƯỚC KHI XÉT XỬ
1. Sự Cấm Bắt và Tạm giữ Độc đoán
Quyền được Biết Lư do Bắt giữ
Quyền về Luật sư tư vấn
Quyền Xuất hiện Tức thời Trước một Thẩm phán để Cáo tỵ sự Hợp pháp của việc Bắt và Giam giữ
Sự Cấm Tra tấn và Quyền được hưởng các Điều kiện Nhân đạo trong khi Giam giữ Trước khi Xét xử
Sự Cấm Biệt Giam
2. Phiên toà
Sự Tiếp cận B́nh đẳng và Quyền b́nh đẳng trước Ṭa án
Quyền được Tranh căi Công bằng
Quyền được Tŕnh bày Quan điểm
Quyền ra trước Hội đồng Xét xử có Thẩm quyền, Độc lập và Không thiên vị
Quyền được Suy đoán là Vô tội
Quyền được Thông báo Tức thời về Bản chất và Lư do Buộc tội H́nh sự
Quyền hưởng Thời gian và các Định chế Thích hợp để Chuẩn bị việc bào chữa
Quyền được xét xử không bị chậm trễ Quá mức
Quyền Tự bào chữa hay nhờ Luật sư Pháp lư
Quyền Chất vấn Nhân chứng
Quyền có Thông dịch viên
Quyền Từ chối Trả lời
Sự Cấm áp dụng Hồi tố Luật H́nh sự
Sự Cấm Xét xử án Đại h́nh Hai lần
3. Những quyền sau khi xét xử
Quyền Kháng cáo
Quyền hưởng sự Bồi thường cho vụ xét xử sai trái
III. SỰ QUAN SÁT XÉT XỬ
Sự Lựa chọn Vụ xét xử
Sự Lựa chọn Quan sát viên Xét xử
Thông báo với Chính quyền
Tóm tắt
Thông dịch viên
Sắp xếp việc Di chuyển và Chỗ ở; các Thủ tục xin Visa và Nhập cảnh
Các Bản Báo cáo Công khai Trước, Trong và Sau khi Làm Nhiệm vụ
Tiếp xúc và Phỏng vấn Trong khi Công tác
Chỗ ngồi trong Pḥng Xét xử; Những Lời Ghi chú
Báo cáo của Quan sát viên
IV. KẾT LUẬN
PHỤ LỤC: GHI CHÚ VỀ CÁC NGUỒN TƯ LIỆU
Các Hiệp ước
Những Tiêu chuẩn Quốc tế
Luật học
Các Ṭa án H́nh sự Quốc tế
Tài liệu Tham khảo
LỜI NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM DỊCH.
Tôi được một người thân ở đồng bằng sông Cửu Long thuật lại trong một phiên toà hội đồng xét xử vừa tuyên án xong, một phụ nữ uống thuốc độc tự tử ngay tại phiên toà, báo chí cũng đă từng thuật nhiều chuyện thương tâm tương tự …. Có những vụ án khi tuyên án là người này nhưng thủ phạm lại là người khác, sau dó mới biết vụ án đó oan sai… các vụ xét xử đă thiếu tính công bằng, gây bức tử cho người phụ nữ thấp cổ bé miệng kia? Nó cứ ray rứt măi trong tôi?!
Như chúng ta đă biết. Trong những ngày này toàn nhân loại chạy đua nước rút để gắn kết vào một tương lai chung, ḍng chảy pháp lư quốc tế đang rất mạnh nó chi phối số phận của các quốc gia riêng lẻ hoặc bị cô lập rồi tan ră hoặc hội nhập vào con thuyền nhân loại văn minh, tôn trọng nhân quyền để phát triển bền vững nó tuỳ vào nhận thức và hành động của mỗi quốc gia … Tiêu chuẩn đầu tiên cho hội nhập là sự thích hợp với pháp luật quốc tế, nó là nền tảng cho mọi cải cách mà cộng đồng các quốc gia muốn tiến đến sự hội nhập thật sự, là nhu cầu cấp bách để Việt Nam tạo đ̣n bẩy tiến lên hiện đại hoá đất nước,đưa quốc gia thoát cảnh nhược tiểu và sánh vai cùng các quốc gia phát triển xây dựng ngôi nhà nhân loại chung ….
Chúng tôi quan tâm đến những văn kiện pháp luật không bởi một truyền thống “tuyên truyền” cho thành tựu chính trị nào nhưng chúng tôi đấu tranh cho việc áp dụng cách thực tiễn của các văn kiện luật quốc tế vào đời sống xă hội thông qua xét xử với đầy đủ tŕnh tự thủ tục chặt chẽ và đặc biệt là tính vô tư công bằng, hầu cho mọi công dân Việt Nam hưởng được một nền pháp lư công bằng dân chủ, công bằng khi bị bắt giam khởi tố, xét xử ... Góp phần thúc đẩy các tự do và nhân quyền được bảo đảm trên đất nước Việt Nam. Chúng tôi cảm ơn Uỷ Ban Luật Sư Về Nhân Quyền Hoa Kỳ (Lawyers’ Committee for Human Rights) đă khích lệ chúng tôi dịch tài liệu này và phổ biến ra toàn cầu bằng Việt ngữ.
Gởi đến những người công chính đang bị lao tù.
Sài g̣n, 9/ 9/2003
Mục sư Nguyễn Hồng Quang
LỜI NÓI ĐẦU
Tập sách hướng dẫn này bàn về hai vấn đề tách riêng nhưng có liên quan mà Ủy ban Luật sư về Nhân quyền và những tổ chức phi chính phủ khác trong khi đương đầu với những hoạt động giám sát xét xử của họ. Thứ nhất là vấn đề những tiêu chuẩn pháp lư cơ bản sẽ được sử dụng trong việc đánh giá sự công bằng của một vụ xét xử. Thứ hai là cách chuẩn bị và thực hiện công tác quan sát xét xử trên thực tế. V́ quan sát viên xét xử có thể–nhưng thường không phải là–những luật sư tố tụng, tập sách hướng dẫn này được biên soạn và cấu trúc để cung cấp những hướng dẫn ngắn gọn nhưng rơ ràng về cách thực hiện công tác quan sát xét xử, vừa quan trọng và thực tế. Nó không bàn về những vấn đề phụ có thể phát sinh khi một vụ xét xử diễn ra ở một ṭa án quân sự.
Mục đích chính của tập sách hướng dẫn này là trợ giúp các quan sát viên xét xử của Ủy ban Luật sư. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng nó cũng hữu ích cho những tổ chức phi chính phủ khác trong việc kiểm soát xét xử, mà một số đă t́m kiếm sự hỗ trợ của Ủy ban Luật sư trong lănh vực này. Chúng tôi hết ḷng hoan nghênh bất kỳ đề xuất nào về những sự cải thiện mà những tổ chức phi chính phủ và cá nhân có kinh nghiệm về việc kiểm soát xét xử muốn thực hiện.
New York, New York
Tháng 3 năm 2000
I. GIỚI THIỆU
Quyền được xét xử công bằng là một tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế được thiết kế để bảo vệ cá nhân không bị lấy đi hay tước đoạt một cách bất hợp pháp và độc đoán những quyền và tự do cơ bản, mà nổi bật nhất là quyền sống và quyền tự do của con người. Nó được bảo đảm theo Điều 14 của Quy ước Quốc tế về các Quyền Công dân và Chính trị (ICCPR) [1][1] quy định rằng “mọi người phải được quyền hưởng sự xét xử công bằng và công khai của một ṭa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị do luật định.”
Tầm quan trọng cơ bản của quyền này không những được một số diễn giải mở rộng mà nó phát sinh mà, gần đây nhất, c̣n được minh họa bằng một đề xuất bao gồm nó trong những quyền không thể làm giảm quy định trong Điều 4(2) của ICCPR.[1][1] Quyền được Xét xử Công bằng có thể được áp dụng để xác định các quyền và bổn phận của cá nhân hợp với luật và được tôn trọng cho việc xác định bất kỳ sự buộc tội h́nh sự nào chống lại người đó. Thuật ngữ “tố quyền dân sự” nói lên những loại thủ tục khác nhau ở ṭa án–bao gồm các thủ tục hành chính chẳng hạn–v́ khái niệm tố quyền dân sự vẫn được diễn giải là xoay quanh bản chất của quyền có liên quan chứ không phải là địa vị của một trong các bên đương sự.[1][1] Nhằm những mục đích của tập sách hướng dẫn này, chỉ có những thủ tục liên quan đến những sự buộc tội h́nh sự mới được xem xét v́ những tổ chức phi chính phủ (NGO) điển h́nh kiểm soát những vụ xét xử h́nh sự hay, chính xác hơn, những vụ xét xử h́nh sự có liên quan đến những vi phạm “chính trị.”[1][1]
Do tính chuyên biệt của từng vụ kiện cá nhân và những mối quan tâm của các tổ chức kiểm soát, sự thể hiện chi tiết những mục tiêu quan sát xét xử là không khả thi. Những mục đích chung chủ yếu có thể được tóm tắt như sau:
làm cho ṭa án, các giới chức thẩm quyền của quốc gia và công chúng biết đến sự chú ư và quan tâm đến vụ xét xử có vấn đề;
khuyến khích một ṭa án xét xử công bằng cho bị can. Tác động của sự hiện diện của quan sát viên trong pḥng xét xử không thể được đánh giá chính xác theo toán học. Tuy nhiên, cả quan sát viên lẫn luật sư bào chữa đều vạch rơ rằng sự hiện diện của một giám sát viên thường làm thay đổi bầu không khí trong pḥng xét xử và tạo thuận lợi cho sự bào chữa bằng cách, không kể những thứ khác, khiến cho ṭa án biết rơ hơn những biện luận bào chữa, khuyến khích luật sư bào chữa và bị can mạnh mẽ hơn trong việc phản đối những yêu cầu của tố quyền, trong việc lôi cuốn sự chú ư của các phương tiện truyền thông đến vụ xét xử, vân vân;
có thêm thông tin về việc thực hiện vụ xét xử, bản chất của vụ việc chống lại bị can và cơ sở luật pháp dùng để xét xử người đó; và
thu thập thông tin cơ sở tổng quát về những t́nh huống chính trị và pháp lư dẫn đến vụ xét xử và có thể ảnh hưởng đến kết quả của nó.[1][1]
Theo nghĩa rộng hơn, việc kiểm soát xét xử bao gồm không những sự hiện diện thực tế của quan sát viên trong pḥng xét xử trong ít nhất một phần của các vụ kiện nhưng, cũng thật quan trọng, là một phần của bổn phận tức thời chuẩn bị báo cáo cho tổ chức mà người đó đại diện, với những kết luận về sự công bằng của vụ xét xử được quan sát. Sự phổ biến trước công luận mà báo cáo này nhận được có thể phục vụ trong ngắn hạn để củng cố các cơ hội được duyệt xét công bằng khi kháng cáo của bị can. Mục tiêu cuối cùng là thông báo cho chính quyền và công luận về những bất thường có thể xảy ra trong trong thủ tục tố tụng h́nh sự và thúc đẩy vụ xét xử thực hiện theo những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Những tiêu chuẩn cơ bản mà theo đó sự công bằng của một vụ xét xử có thể được đánh giá là vấn đề đầu tiên sẽ được bàn trong trong tập sách phê b́nh này. Vấn đề thứ hai là cách thực hiện điển h́nh một công tác quan sát xét xử.
II. NHỮNG TIÊU CHUẨN XÉT XỬ CÔNG BẰNG CƠ BẢN
Những tiêu chuẩn được dựa vào đó để đánh giá một vụ xét xử về mặt công bằng th́ vô số, phức tạp và không ngừng tiến triển. Chúng có thể cấu thành những nghĩa vụ ràng buộc được bao gồm trong những hiệp ước mà nhà nước là một bên. Nhưng, chúng cũng có thể được t́m thấy trong những văn kiện, mặc dù không ràng buộc chính thức, vẫn có thể được dùng để thể hiện chiều hướng đang tiến triển của pháp luật.[1][1] Nhằm tránh những thách thức khả dĩ đối với bản chất pháp lư của những tiêu chuẩn được dùng để đánh giá sự công bằng xét xử, các giám sát viên nên tham khảo những tiêu chuẩn về nguồn gốc pháp lư không gây tranh căi. Đó là:
(i) các luật lệ của quốc gia tổ chức vụ xét xử;
(ii) các hiệp ước về nhân quyền mà quốc gia đó là bên tham gia kư kết, và
(iii) các tiêu chuẩn của thông luật quốc tế.[1][1]
trước khi quan sát một vụ xét xử, một quan sát viên nên đọc những tài liệu có liên quan thuộc pháp chế trong nước. Do những hệ thống pháp luật và những mệnh lệnh pháp lư khác nhau, cũng như các giai đoạn phát triển khác nhau của chúng, ta không thể lập ra một danh sách bao quát hết các bản văn cốt yếu. Một danh sách tối thiểu sẽ bao gồm:
i) hiến pháp của một quốc gia, đặc biệt là những quy định về nhân quyền và hệ thống pháp lư;
ii) bộ luật H́nh sự và Bộ luật Tố tụng H́nh sự của nó; các văn kiện pháp lư về việc thành lập và thẩm quyền pháp lư của các ṭa án và về văn pḥng công tố, và
iii) những phán quyết làm chuẩn mực của ṭà án liên quan đến nhân quyền, đặc biệt ở những quốc gia dùng thông luật. Mục đích của quan sát viên ở mức độ xem xét này là đánh giá xem liệu những quy định áp dụng của luật trong nước bảo đảm cho vụ xét xử công bằng có được thực hiện hay không và, nếu có, th́ đến chừng mực nào. Nngười ta biết rơ rằng khi các hiến pháp và các văn kiện luật pháp thường cung cấp biện pháp nào đó về sự công bằng trong các vụ xét xử h́nh sự, sự thực hiện xét xử của các ṭa án thường không thích hợp.
Trước khi đảm nhận công tác quan sát một vụ xét xử, một giám sát viên nên t́m những hiệp ước nhân quyền nào mà quốc gia có liên quan đă tham gia kư kết. Hiệp ước quan trọng nhất là ICCPR (Quy ước Quốc tế về Quyền công dân và Chính trị), bao gồm một số điều liên quan đến việc đánh giá sự công bằng của một vụ xét xử.[1][1]
Quyền được xét xử công bằng đối với sự cáo buộc tội h́nh sự được xem là bắt đầu hoạt động không “chỉ vào lúc chính thức đưa ra lời buộc tội mà vào ngày mà các hoạt động của quốc gia chủ yếu có ảnh hưởng đến t́nh h́nh của đương sự.[1][1] Điều này có thể trùng hợp rơ ràng với thời điểm bắt giữ, tùy thuộc vào các t́nh huống của vụ việc. Sự bảo đảm xét xử công bằng phải được quan sát từ thời điểm cuộc điều tra chống lại bị cáo bắt đầu cho đến khi diễn ra các vụ án h́nh sự, kể cả bất kỳ sự kháng cáo nào, đă hoàn tất. Sự khác biệt giữa các thủ tục trước khi xét xử, những thủ tục xét xử thực sự và những thủ tục sau khi xét xử thực ra rất khó nhận biết, và sự vi phạm các quyền hạn trong giai đoạn này có thể có ảnh hưởng đến giai đoạn khác. Tuy nhiên, những điều khoản phù hợp nhất của ICCPR có thể tạm chia thành ba loại và sự tách biệt đôi khi cũng hữu ích nhằm mục đích xác định những vấn đề nào sẽ được đặc biệt quan tâm trong những khoảng thời gian tiến hành xét xử.
NHỮNG QUYỀN TRƯỚC KHI XÉT XỬ
1. Sự cấm bắt và tạm giữ độc đoán
Điều 9(1) của ICCPR[1][1] quy định rằng “mọi người có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân.” Tự do của cá nhân đựơc lư giải theo nghĩa hẹp, có nghĩa là sự tự do chuyển động thân xác, chỉ bị cản trở khi cá nhân bị giam hăm trong một khoảng không gian cụ thể như nhà tù hay cơ sở giam giữ.[1][1] An toàn được hưởng có nghĩa là quyền được tự do không bị can thiệp vào sự hợp nhất của cá nhân v́ những cá nhân khác. Theo Điều 9(1) “Không ai bị Bắt và Giam giữ một cách độc đoán” và “Không ai bị tước mất tự do ngoại trừ trên những cơ sở và theo thủ tục luật định như vậy.” Nguyên tắc về tính hợp pháp nằm ở câu sau về mặt thực chất (“trên những cơ sở như vậy”) và về mặt thủ tục (“theo thủ tục như vậy”) đă ủy thác rằng thuật ngữ “luật” nên được hiểu như một tiêu chuẩn trừu tượng, có thể áp dụng và tiếp cận cho tất cả, cho dù là được xác nhận trong luật thành văn hay tạo nên một phần của thông luật bất thành văn. Việc cấm sự độc đoán được đề cập trong câu trước bảo đảm rằng bản thân luật pháp không phải sự độc đoán, nghĩa là sự tước bỏ tự do do luật pháp cho phép th́ “hiển nhiên cân xứng, công bằng và tiên đoán được, và tính cách cụ thể trong sự bắt giữ không được mang tính kỳ thị và phải có thể được xem là phù hợp và cân xứng theo các t́nh huống của vụ việc”.[1][1]
2. Quyền được biết lư do bắt giữ
Điều 9(2) của ICCPR[1][1] quy định rằng “Bất kỳ ai bị bắt giữ đều phải được thông báo, vào lúc bắt giữ, về những lư do bắt giữ và phải được thông báo ngay tức th́ về bất kỳ sự buộc tội nào cho người đó.” Những quy định này đă được diễn giải rằng bất kỳ ai bị bắt giữ đều phải được báo cho biết về những lư do tổng quát về việc bắt giữ “ngay lúc bắt giữ,” trong khi thông tin sau đó, sẽ được cung cấp “tức thời,” phải bao gồm những sự buộc tội theo nghĩa pháp lư.[1][1] Tuy nhiên phải có đủ thông tin để cho phép bị can tranh biện về tính hợp pháp của việc giam giữ ḿnh.[1][1] Một giấy cho phép bắt giữ không phải là điều kiện đ̣i hỏi tuyệt đối, nhưng việc thiếu giấy phép bắt giữ, trong một vài trường hợp, có thể làm phát sinh yêu cầu bắt giữ độc đoán.
Những lư do bắt giữ và sự giải thích bất kỳ những quyền khác (chẳng hạn như quyền có luật sư tư vấn), phải được cung cấp bằng ngôn ngữ mà người bị bắt hiểu được.[1][1] Theo đó, bị cáo có quyền có một thông dịch viên có khả năng nếu đương sự không hiểu được ngôn ngữ địa phương.[1][1] Quyền này được mở rộng trong mọi thủ tục trước khi xét xử.[1][1]
3. Quyền có luật sư tư vấn
Quyền được cung cấp và liên lạc với luật sư tư vấn là sự bảo đảm cho sự xét xử công bằng cụ thể được xem xét kỹ nhất trong thực tế quan sát xét xử, v́ nó chứng tỏ là quyền thường bị vi phạm nhất. Nguyên tắc 1 thuộc những Nguyên tắc Cơ bản về Luật sư nêu ra rằng “[một] tất cả mọi người đều được quyền kêu gọi sự trợ giúp của một luật sư do họ lựa chọn để bảo vệ và thiết lập các quyền của ḿnh và để bào chữa cho họ trong tất cả các giai đoạn của các thủ tục tố tụng h́nh sự.” Quyền này đặc biệt phù hợp trong trường hợp bị tạm giữ trước khi xét xử[1][1] và được bàn luận trong bối cảnh đó ở phần này. Tuy nhiên, quyền có luật sư tư vấn cũng là một yếu tố quan trọng của quyền được hưởng những định chế thích hợp để chuẩn bị cho việc bào chữa[1][1] và quyền được bào chữa sẽ được bàn sau trong tài liệu này.[1][1]
Nguyên tắc 5 thuộc những Nguyên tắc Cơ bản về Luật sư và Nguyên tắc 17 thuộc Toàn bộ Nguyên tắc đặc biệt quy định rằng khi một người bị bắt giữ, bị buộc tội và bị giam giữ th́ người đó phải được tức thời thông báo về quyền được hưởng sự trợ giúp pháp lư do ḿnh lựa chọn. Điều 7 của những Nguyên tắc Cơ bản về Luật sư đ̣i hỏi các chính phủ phải bảo đảm rằng tất cả những người bị bắt hay giam giữ nên được tiếp cận với một luật sư trong ṿng 48 giờ kể từ khi bị bắt hay bị giam giữ.[1][1] Một quyền lựa chọn luật sư tư vấn của cá nhân do đó sẽ bắt đầu hoạt động khi một nghi can hay bị can vừa mới bị bắt giam, bất kể đương sự có chính thức bị buộc tội vào lúc đó hay không. Ngoài ra, nếu bị can không đủ khả năng để thuê luật sư tư vấn cho ḿnh, các cơ quan hữu trách phải cung cấp một luật sư miễn phí nếu các quyền lợi của toà án đ̣i hỏi như vậy.[1][1] Việc các quyền lợi của toà án có đ̣i hỏi một sự chỉ định như vậy hay không c̣n chủ yếu tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sự vi phạm và mức độ khắc nghiệt của h́nh phạt có thể được đưa ra.[1][1]
Nguyên tắc 8 thuộc các Nguyên tắc Cơ bản về Luật sư đ̣i hỏi các cơ quan thẩm quyền phải bảo đảm rằng tất cả những người bị bắt, bị tạm giữ hay bị cầm tù đều phải có cơ hội thích hợp được luật sư của ḿnh thăm viếng và liên lạc không được chậm trễ, ngăn chặn hay kiểm duyệt, trong t́nh trạng hoàn toàn bảo mật. Khi luật sư và thân chủ gặp nhau họ có thể ở trong tầm nh́n của một nhân viên cưỡng chế thi hành luật pháp, nhưng ở ngoài tầm nghe thấy những ǵ họ trao đổi.[1][1]
4. Quyền được xuất hiện tức thời trước một thẩm phán để tranh biện về tính hợp pháp của việc bắt và giam giữ.
Điều 9(3)[1][1] đặc biệt nói đến những quyền của một người bị bắt hay bị giam giữ v́ bị buộc tội h́nh sự, “phải được đưa ngay lập tức đến trước một thẩm phán hay một viên chức được ủy quyền theo luật định để hành xử quyền của ṭa án và phải được xét xử trong một khoảng thời gian hợp lư hoặc được thả ra.” Tính tức thời đă được Ủy ban Nhân quyền (HRC) diễn giải là thời gian bị giam giữ, trước khi một cá nhân được đem ra trước một thẩm phán hay một viên chức khác, có thể không vượt quá “vài ngày.”[1][1]
Điều 9(3) làm sáng tỏ rằng việc tạm giữ trước khi xét xử “không phải là quy tắc chung” và ngầm cung cấp cho người bị tạm giữ một yêu cầu hợp pháp là được tại ngoại hầu tra bằng cách đóng tiền bảo lănh hay nhờ người khác bảo lănh.[1][1] Ngoài ra, Điều 9(3) nêu rằng nếu một vụ xét xử không diễn ra trong một khoảng thời gian hợp lư th́ bị can cũng phải được tại ngoại hầu tra.[1][1] Khoảng thời gian được xem là “hợp lư” c̣n tùy thuộc vào các t́nh huống của vụ án. Những yếu tố liên quan bao gồm nguy cơ bỏ trốn, sự phức tạp của vụ án, bản chất của sự vi phạm và sự nhẫn nại của các cơ quan điều tra và công tố trong khi theo đuổi vụ án.[1][1]
Không đề cập đến nó một cách công khai, Điều 9(4)[1][1] cung cấp quyền bảo hộ nhân thân hay amparo, nghĩa là quyền của bất kỳ ai bị tước mất tự do do bị bắt và tạm giữ để “tiến hành tố tụng trước ṭa án, để toà án có thể quyết định ngay lập tức về tính hợp pháp của việc tạm giữ anh ta và ra lệnh thả anh ta nếu sự tạm giữ không hợp pháp.” Trong bối cảnh này ta cần lưu ư:
i) thuật ngữ “ṭa án” không chỉ có nghĩa là một ṭa án thông thường, mà c̣n là một ṭa án đặc biệt, bao gồm ṭa hành chính, ṭa bảo hiến hay cả ṭa án binh hay quân sự;[1][1]
ii) quyết định của ṭa án chỉ liên quan đến tính hợp pháp của việc tạm giam, và
iii) những ǵ tạo nên “sự chậm trễ” phải được đánh giá theo những t́nh huống của vụ án.
Những thủ tục về bảo hộ nhân thân phải đơn giản, mau chóng và miễn phí nếu người bị bắt giữ không có khả năng chi trả.[1][1] Người bị bắt giữ cũng có quyền tiếp tục xem xét tính hợp pháp của sự tạm giữ theo định kỳ hợp lư.[1][1]
Cuối cùng, Điều 9(5)[1][1] quy định rằng “bất kỳ hay một người nào là nạn nhân bị bắt hay tạm giữ đều có quyền đ̣i thi hành việc bồi thường.” Quyền này nảy sinh khi việc bắt hay tạm giữ vi phạm những quy định của Điều 9(1)-(4) và/hay một quy định của luật trong nước. Tuy nhiên, cách tiến hành kêu đ̣i thực hiện việc bồi thường không được giải thích công khai rơ ràng mà thường được xem là nói đến quyền của một cá nhân khởi kiện theo luật dân sự để chống lại nhà nước hay một thể nhân hay một người cụ thể phải chịu trách nhiệm hành vi sai trái.
5. Sự cấm tra tấn và quyền được hưởng những điều kiện nhân đạo trong khi bị tạm giam trước khi xét xử
Điều 7 của ICCPR cấm việc tra tấn–sự đối xử hay h́nh phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hay làm giảm hạ nhân phẩm–và là một tiêu chuẩn của thông luật quốc tế cũng c̣n tùy thuộc vào loại jus cogens hay cưỡng hành pháp. Định nghĩa và việc bảo vệ chống việc tra tấn đă được nghiên cứu tỉ mỉ trong Quy ước chống Tra tấn 1984:
Điều 1(1): … thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa bất kỳ hành động nào gây đau đớn hay đau khổ, về thể xác hay tinh thần, cố ư tác động trên một người nhằm mục đích nhận được thông tin từ người đó hay từ một người thứ ba hay từ sự thú tội, bằng cách trừng phạt anh ta v́ một hành động mà anh ta hay một người thứ ba đă phạm hay bị nghi ngờ đă phạm, hoặc bằng cách doạ nạt hay ép buộc anh ta hay một người thứ ba, hay v́ bất kỳ lư do nào dựa trên bất kỳ loại kỳ thị nào, khi sự đau đớn hay đau khổ như vậy được gây ra bởi hay trong t́nh trạng bị xúi giục hay với sự đồng ư hoặc ngầm đồng ư của một công chức hay người nào khác đang hành động theo khả năng chính thức. Nó không bao gồm sự đau đớn hay đau khổ chỉ phát sinh từ tính cố hữu hay ngẫu nhiên của những h́nh phạt hợp pháp.
Định nghĩa về việc tra tấn, bị Luật thành văn của ICC cấm đoán như một tội phạm chống nhân loại khi được thực hiện một cách lan tràn và có hệ thống, th́ rộng hơn một chút ở Luật thành văn so với Quy ước về Tra tấn. Không giống như Quy ước về Tra tấn, định nghĩa của Luật thành văn ICC bao gồm các hành động vi phạm một cách độc lập của bất kỳ công chức nào (nghĩa là do các cá nhân với các động cơ cá nhân).[1][1]
Theo Điều 2(2) của Quy ước về Tra tấn không có t́nh huống ngoại lệ nào, “cho dù là một quốc gia đang có chiến tranh hay có mối đe doạ của chiến tranh, có sự bất ổn chính trị trong nước hay bất kỳ trường hợp khẩn cấp chung nào khác” có thể được xem là sự biện minh cho việc tra tấn.[1][1]
Các quốc gia tham gia Quy ước bắt buộc phải áp dụng những biện pháp hiệu quả về lập pháp, hành chính, tư pháp và các biện pháp khác để ngăn chặn những hành động tra tấn ở bất kỳ lănh thổ nào nằm trong quyền hạn của ḿnh [Điều 2(1)]. Ngoài ra, theo Điều 2(3), các mệnh lệnh của quan chức cấp cao không thể được viện ra để bào chữa cho việc tra tấn.
Điều 10 của ICCPR qui định trong đoạn 1 rằng “Tất cả những người bị tước mất tự do phải được đối xử nhân đạo và được tôn trọng v́ phẩm cách vốn có của con người.”[1][1] Cần nhấn mạnh rằng, không như sự cấm đoán việc tra tấn ở Điều 7 của ICCPR, bằng cách đ̣i hỏi không được có sự cản trở về phía các cơ quan thẩm quyền của nhà nước, quyền được đối xử nhân đạo đặt ra một bổn phận tích cực cho các nhà nước. bổn phận này nhằm bảo đảm cho việc tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu về các điều kiện giam giữ và thi hành các quyền của người bị giam giữ trong khi bị tước mất tự do. Phải thừa nhận rằng mối dây liên lạc giữa Điều 7 và 10 đôi khi thật khó rút ra được như luật án lệ của HRC đă chứng minh.
Nói chung, có thể nói rằng cách đối xử vô nhân đạo như được nói đến trong Điều 10 gắn liền với một “mức độ bất chấp nhân phẩm thấp hơn so với mức độ này trong ư nghĩa của Điều 7.”[1][1] Trong khi đó sự cấm tra tấn và những cách đối xử hoặc h́nh phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hay làm giảm nhân phẩm khác bao gồm những sự tấn công cụ thể vào t́nh trạng toàn vẹn của cá nhân[1][1] và áp dụng cho tất cả mọi người, cho dù đang bị giam giữ dưới bất kỳ h́nh thức nào hay không, th́ Điều 10 có liên quan nhiều hơn đến t́nh trạng tổng quát của một cơ sở giam giữ và/hay các điều kiện giam giữ và có nghĩa chỉ bao gồm cách đối xử của những người thực sự đă bị tước mất tự do. Theo HRC, các Quốc gia không thể viện dẫn sự thiếu các nguồn tài nguyên vật chất hay những khó khăn tài chánh để biện minh cho cách đối xử vô nhân đạo và bắt buộc phải cung cấp cho các người bị tạm giam hay các tù nhân các dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của họ. [1][1]
Thí dụ, các người bị tạm giam có quyền được hưởng lương thực,[1][1] quần áo,[1][1] sự quan tâm về y tế phù hợp[1][1] và được liên lạc với gia đ́nh.[1][1]
Nói chung, các Quy tắc Tiêu chuẩn Tối thiểu,[1][1] những Nguyên tắc Cơ bản về Tù nhân và Toàn bộ Nguyên tắc là những công cụ tham khảo quan trọng về các quyền của tù nhân.[1][1]
6. Sự cấm biệt giam
HRC đă phát hiện rằng sự biệt giam có thể vi phạm Điều 7 của ICCPR cấm tra tấn và những cách đối xử hoặc h́nh phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hay làm giảm nhân phẩm khác.[1][1] Nguyên tắc 19 của Toàn bộ Nguyên tắc nói rằng một “người bị tạm giam hay cầm tù phải có quyền được thăm viếng và liên lạc thư từ, đặc biệt với các thành viên trong gia đ́nh của ḿnh và phải được tạo cơ hội thích hợp để liên lạc với thế giới bên ngoài, được hưởng những điều kiện và những hạn chế hợp lư do luật pháp và những quy định hợp pháp ấn định.” Tối thiểu th́ quyền liên lạc với “thế giới bên ngoài” bao gồm quyền được liên lạc với gia đ́nh, luật sư và bác sĩ của người bị tạm giam.
Nguyên tắc 16 của Toàn bộ Nguyên tắc đ̣i hỏi rằng gia đ́nh của bất kỳ người bị bắt hay tạm giam phải được tức thời thông báo về việc bắt giữ này và về địa điểm của người thân bị bắt giữ của ḿnh. Nếu người bị tạm giam được chuyển đến một cơ sở khác th́ gia đ́nh phải được thông báo về sự thay đổi đó.[1][1]
Người bị tạm giam không thể bị khước từ việc liên lạc với gia đ́nh và luật sư tư vấn của ḿnh ‘trong khoảng vài ngày.”[1][1] Ngoài ra, nơi người bị tạm giam được gia đ́nh và bạn bè đến thăm chỉ phải tuân thủ các hạn chế “cần thiết theo quyền lợi của việc quản lư tư pháp và của sự an ninh và trật tự của thiết chế.”[1][1]
Về việc tiếp cận với các luật sư, xem phần II.A.3. của báo cáo này, bàn luận về cách tiếp cận với luật sư tư vấn. Về phần bác sĩ, Chú giải Tổng quát 20 của HRC, Toàn bộ Nguyên tắc và những Quy tắc Tiêu chuẩn Tối thiểu đều nêu ra rằng những người bị tạm giam phải được tiếp cận tức thời và đều đặn với việc chăm sóc y tế.[1][1]
Cuối cùng, nếu người bị tạm giam là một công dân nước ngoài, người đó phải được phép liên lạc và được sự thăm viếng của các đại diện của chính quyền của ḿnh.[1][1]
B. PHIÊN T̉A
Điều 14 của ICCPR chắc chắn là phù hợp nhất với phần duyệt xét này. Nó đặc biệt cung cấp sự b́nh đẳng trước các ṭa án và quyền được hưởng một phiên toà công bằng và công khai của một hội đồng xét xử có khả năng, độc lập và không thiên vị do luật pháp quy định, cho dù là một vụ án h́nh sự hay một tố quyền dân sự có liên quan (đoạn 1). Phần c̣n lại của những qui định này–đoạn 2-7–có chứa một bản liệt kê “những sự bảo đảm [tố tụng] tối thiểu” thuộc về một cá nhân trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào chống lại anh/cô ta. Phần sau đây sẽ nghiên cứu tỉ mỉ ư nghĩa của các quyền được đề ra trong Điều 14 theo thứ tự phát sinh của chúng.
1. Sự tiếp cận b́nh đẳng và sự b́nh đẳng trước các ṭa án
Câu đầu tiên của Điều 14(1) quy định rằng “Tất cả mọi người đều phải được b́nh đẳng trước các ṭa án và các hội đồng xét xử” và được diễn giải để có nghĩa rằng tất cả mọi người đều phải được ban cho, mà không bị kỳ thị, quyền tiếp cận b́nh đẳng trước ṭa. Một mặt, điều này có nghĩa rằng việc thiết lập những toà án riêng biệt cho những nhóm người khác nhau dựa theo các chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hay dựa theo quan điểm, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, sự ra đời hay các t́nh trạng khác sẽ là sự vi phạm Điều 14(1).
Mặt khác, sự thiết lập một số loại ṭa án đặc biệt có quyền xét xử tất cả những người thuộc cùng một loại, như nhân viên quân sự, vẫn c̣n là một vấn đề gai góc. Theo HRC, thông lệ này không bị cấm theo Điều 14(1) một khi các sự bảo đảm về thủ tục được đề ra trong đó được tuân thủ; ngoài ra, HRC đă không quy định liên bộ rằng các toà án quân sự có thể không bao giờ được xét xử dân thường. Tuy nhiên, đồng thời cũng có một quan điểm ngày càng phổ biến cho rằng những vụ xét xử dân thường của các toà án quân sự là thiếu hợp pháp. Được sự ủng hộ của những Tổ chức phi chính phủ, sự lư giải này cũng được các qui định của những nguyên tắc Cơ bản về sự độc lập của tư pháp hậu thuẫn. Đoạn 5 của những Nguyên tắc Cơ bản quy định rằng “Mọi người phải có quyền được các ṭa án và các hội đồng xét xử b́nh thường xét xử bằng cách sử dụng những thủ tục pháp lư đă được thiết lập”. [phần nhấn mạnh thêm][1][1]
Câu thứ hai của Điều 14(1) liên quan đến quyền được xét xử công bằng và công khai của một hội đồng xét xử có khả năng, độc lập và không thiên vị theo luật định. Nó bao gồm những thành phần cơ bản của các điều khoản bảo vệ cá nhân trong giai đoạn thủ tục, trong các vụ án h́nh sự, được các quy định khác của Điều 14 và 15[1][1] bổ sung.
2. Quyền được hưởng phiên ṭa công bằng
Quyền được hưởng phiên toà công bằng được qui định trong Điều 14(1) của ICCPR bao gồm những sự bảo đảm về thủ tục và những sự bảo đảm khác ở các đoạn văn từ 2 đến 7 của Điều 14 và Điều 15.[1][1] Tuy nhiên, nó rộng răi hơn về phạm vi, v́ có thể được suy diễn từ cách diễn đạt của Điều 14(3) nói đến các quyền cụ thể được liệt kê như “những sự bảo đảm tối thiểu”. Do đó, quan trọng là phải lưu ư rằng mặc dù đă thực hiện đầy đủ tất cả những sự bảo đảm chính được đặt ra trong các đoạn văn 2-7 của Điều 14 và trong những qui định của Điều 15, một vụ án có thể vẫn không đạt tiêu chuẩn công bằng được vạch ra trong Điều 14(1).
Tiêu chuẩn quan trọng duy nhất trong việc đánh giá sự công bằng của một vụ xét xử là sự tuân thủ nguyên tắc b́nh đẳng giữa các bên bào chữa và công tố. (Những quyền tố tụng cụ thể cấu thành “những bảo đảm tối thiểu” của một vụ xét xử công bằng” sẽ được đề cập sau).
B́nh đẳng giữa các bên đương sự, phải được tuân thủ trong suốt vụ xét xử, có nghĩa rằng cả hai bên đương sự đều được đối xử theo một cách bảo đảm cho tư thế b́nh đẳng về thủ tục tố tụng của họ trong suốt tiến tŕnh xét xử. Sẽ khó nhận diện trước được tất cả các t́nh huống có thể cấu thành những sự vi phạm nguyên tắc này. Chúng có thể nằm trong phạm vi từ sự khước từ bị cáo và/hay thời gian tư vấn pháp lư để chuẩn bị bào chữa cho đến việc loại trừ bị cáo và/hay luật sư tư vấn ra khỏi phiên toà kháng cáo khi có sự hiện diện của công tố viên.
3. Quyền được hưởng phiên ṭa công khai
Điều 13(4) cùa ICCPR[1][1] cũng bảo đảm quyền được hưởng phiên ṭa công khai, như một trong những yếu tố cốt yếu của khái niệm xét xử công bằng. Tuy nhiên, nó cũng cho phép một số ngoại lệ đối với qui tắc chung trong những t́nh huống xác định. Sự công khai của một vụ xét xử bao gồm cả bản chất công khai của các phiên ṭa–cần nhấn mạnh là không phải thuộc những giai đoạn khác nhau trong các thủ tục tố tụng–lẫn sự công khai của phán quyết cuối cùng được đưa ra trong một vụ án. Đó là một quyền thuộc về các bên đương sự, nhưng cũng thuộc về công chúng trong một xă hội dân chủ.
Quyền được hưởng phiên ṭa công khai có nghĩa rằng theo nguyên tắc phiên ṭa sẽ được thực hiện bằng lời nói và trước công chúng, mà không có sự yêu cầu cụ thể của các bên đương sự về điều đó. Ngoài những thứ khác, toà án hay hội đồng xét xử bắt buộc phải thông báo về thời gian và địa điểm của phiên toà công khai và tạo mọi thuận lợi cho việc tham dự phiên ṭa của các thành viên công chúng quan tâm đến phiên ṭa, trong phạm vi giới hạn hợp lư. Công chúng, kể cả báo chí, có thể bị loại ra khỏi tất cả hay một phần của vụ xét xử v́ những lư do được qui định trong Điều 14(1), nhưng sự loại trừ này phải dưạ trên một quyết định của ṭa án theo các quy tắc tố tụng liên quan.
Công chúng có thể bị loại trừ v́ những lư do “đạo đức, trật tự công công hay an ninh quốc gia trong một xă hội dân chủ, hay khi có sự đ̣i hỏi về quyền lợi của cuộc sống riêng tư của các bên đương sự”. Công chúng cũng có thể bị loại trừ “ở mức độ cực kỳ cần thiết theo ư kiến của toà án trong những t́nh huống đặc biệt khi mà sự công khai sẽ gây thành kiến cho quyền lợi của ngành tư pháp.” Những cơ sở đạo đức để loại trừ công chúng thường được khẳng định trong những vụ án về những tội hăm hiếp. Thuật ngữ “trật tự công cộng” trong văn cảnh cụ thể này được lư giải là chủ yếu có liên quan đến trật tự trong pḥng xét xử, trong khi những lư do về an ninh quốc gia có thể được đưa ra để giữ bí mật quốc gia.
Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp sau này, sự áp dụng hạn chế phải tương ứng với những nguyên tắc được tuân thủ trong một xă hội dân chủ, [được nhấn mạnh thêm], một sự đánh giá phẩm chất t́m cách ngăn ngừa sự độc đoán trong các quyết định khép kín các vụ xét xử. Cuộc sống riêng tư được lư giải là bao hàm các mối quan hệ gia đ́nh, cha mẹ con cái và những mối quan hệ khác, như sự giám hộ, có thể bị thành kiến trong những vụ án công khai. Cuối cùng, công chúng có thể bị ngăn cản tham dự một vụ xét xử v́ quyền lợi của ngành tư pháp, nhưng chỉ trong những t́nh huống đặc biệt và ở mức độ cực kỳ cần thiết theo ư kiến của ṭa án. (Những) sự bộc phát cảm xúc của những người dự khán một vụ xét xử được trích dẫn như một thí dụ về lúc mà qui định này bắt đầu có hiệu lực.
Trong khi số trường hợp có thể đáng để khép kín một cuộc xét xử th́ khá lớn, đây không phải là trường hợp có liên quan đến việc tuyên bố phán quyết.[1][1] Theo Điều 14(1) các phán quyết “phải đựơc tuyên bố công khai” ngoại trừ khi có yêu cầu về quyền lợi của những trẻ vị thành niên hay khi các vụ kiện có liên quan đến những tranh chấp hôn nhân về sự giám hộ con cái. Những trường hợp loại trừ công chúng do đó được xác định một cách hạn hẹp và chính xác hơn. Một phán quyết được xem là được thực hiện công khai khi nó được tuyên bố bằng miệng ở ṭa án hay khi nó được ấn hành, hoặc khi nó được phổ biến công khai bằng cả hai phương pháp này. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự tiếp cận của nó với tất cả mọi người là yếu tố quyết định. phán quyết phải đưa ra những lư do đủ để cho phép bị cáo đệ đơn kháng cáo,[1][1] và phải được tuyên trong khoảng thời gian hợp lư của phiên toà.[1][1]
4. Quyền ra trước hội đồng xét xử cóthẩm quyền, độc lập và không thiên vị theo luật định
Khuôn khổ của hiến pháp cơ bản tạo cơ hội được hưởng quyền xét xử công bằng là các việc kiện tụng trong bất kỳ vụ án h́nh sự nào (hay về một hành vi dân sự) sẽ do một hội hội đồng xét xử có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị theo luật định thực hiện[Điều 14(1)]. [1][1] Lư do cơ bản của qui định này là để tránh sự độc đoán và/hay thiên vị có khả năng nảy sinh nếu những sự cáo buộc tội h́nh sự được một tập thể chính trị hay một cơ quan hành pháp quyết định. Một hội đồng xét xử nên có khả năng và do luật định.
Cả hai thuộc tính này thực ra đều là những khía cạnh của cùng một yêu cầu: trong khi khả năng ám chỉ thẩm quyền của cá nhân, chủ đề, về lănh thổ hay thời gian phù hợp của một ṭa án trong một vụ án cụ thể, ṭa án này, bao gồm sự phác họa về khả năng của nó, phải theo luật định. Thuật ngữ “luật pháp” có nghĩa pháp chế được thông qua bởi một cơ quan làm luật thường lệ được trao quyền để ban hành các luật thành văn hay một quy phạm bất thành văn của thông luật, tùy theo hệ thống pháp luật. Trong cả hai trường hợp nét đặc trưng quan trọng là luật pháp phải đến được với tất cả mọi người bị nó chi phối. Mục đích tổng quát của quy định này là bảo đảm rằng những sự cáo buộc tội h́nh sự được xét xử bởi một ṭa án đă được lập từ trước và độc lập với một vụ án cụ thể–và không có trước và đặc biệt dành cho tội phạm có liên quan. Để mang tính chất độc lập, một hội đồng xét xử phải được thiết lập theo luật định để thực hiện những chức năng xét xử, nghĩa là xác định những vấn đề trong phạm vi khả năng của nó dựa theo những quy tắc của luật pháp (thực chất) và phù hợp với những thủ tục được thực hiện theo một phong cách bắt buộc (thủ tục tố tụng).[1][1]
Sự độc lập bao hàm một sự tách biệt các quyền lực mà trong đó ngành tư pháp được hiến pháp bảo vệ tránh bị ảnh hưởng hay sự can thiệp quá mức của ngành hành pháp và, ở mức độ thấp hơn, của ngành lập pháp. Những Nguyên tắc Cơ bản về Tư pháp đă đề ra khá chi tiết về nhu cầu và những cơ chế cần thiết để thực hiện sự độc lập đó. Một số những sự bảo vệ an toàn thực tế cho sự độc lập bao gồm sự ấn định những khả năng cần thiết để bổ nhiệm trong ngành tư pháp, thớ hạn bổ nhiệm,[1][1] nhu cầu nắm giữ chức vụ bảo đảm,[1][1] thủ tục thi hành kỷ luật thẩm phán một cách hữu hiệu, công b́nh, và độc lập[1][1] và nghĩa vụ của mỗi Quốc gia phải cung cấp những nguồn lực thích hợp để khiến ngành tư pháp thực hiện các chức năng của ḿnh một cách phù hợp[1][1] (thí dụ vấn đề lương bổng[1][1] và đào tạo[1][1]). Tuỳ theo những t́nh huống của một vụ án, sự độc lập của một toà án cũng có thể được đánh giá dựa trên mối quan hệ của nó với những nhóm xă hội nổi trội như những chính đảng, giới truyền thông và nhóm hoạt động ở hành lang nghị viện.
Trong khi sự độc lập chủ yếu dựa vào những cơ chế nhắm vào việc bảo đảm cho một vị trí của một toà án ở bên ngoài, sự không thiên vị ám chỉ hạnh kiểm và sự chú trọng vào kết quả cuối cùng của một vụ án cụ thể. Thành kiến (hay sự không có thành kiến xuất phát từ đó) là tiêu chuẩn quan trọng hơn để bảo đảm cho sự không thiên vị của một toà án. Do đó, thoạt nh́n ta thấy có vấn đề khi một thẩm phán tham gia vào những vụ kiện về một khả năng có trước nào đó, hay khi ông/bà ta có liên quan đến các chính đảng, hoặc khi có phần đóng góp của cá nhân trong các vụ kiện.
Sự nghi ngờ cũng xảy ra khi vị thẩm phán có một quan điểm rơ ràng đă thành h́nh từ trước có thể tác động vào việc ra quyết định hay khi có những lư do khác nảy sinh liên quan đến sự thiên vị của ông/bà ta.
5. Quyền được suy đoán vô tội
Theo Điều 14(2) của ICCPR “Mọi người bị buộc tội h́nh sự phải có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo luật định.”[1][1] Là một thành phần cơ bản của quyền được xét xử công bằng, quyền được suy đoán là vô tội, ngoài các quyền khác, có nghĩa rằng gánh nặng dẫn chứng trong một vụ án h́nh sự thuộc phần công tố và bị can được hưởng lợi ích của sự nghi ngờ.[1][1] Mặc dù sự kiện Điều 14(2) không ấn định tiêu chuẩn về chứng cứ đ̣i hỏi, người ta thường chấp nhận rằng tội lỗi phải được chứng minh “với sự kết tội thật sát sao của người kết tội sát thực tế hay nằm ngoài sự nghi ngờ hợp lư, bất kỳ tiêu chuẩn về chứng cứ nào cung cấp được sự bảo vệ lớn nhất cho sự suy đoán vô tội theo luật pháp quốc gia.”[1][1] Ngoài ra quyền được suy đoán vô tội phải được duy tŕ không chỉ trong suốt thời gian xét xử một vụ án h́nh sự đối với bị cáo mà c̣n liên quan đến một kẻ bị t́nh nghi hay bị can trong suốt giai đoạn tiền xét xử. Bổn phận của cả các viên chức liên quan đến vụ án cũng như của tất cả các cơ quan công là duy tŕ quyền suy đoán vô tội bằng cách “kềm chế sự phán đoán trước kết quả của vụ xét xử.”[1][1] Có thể cũng cần thiết phải chú ư đến h́nh thức bên ngoài của một bị cáo trong suốt cuộc xét xử nhằm duy tŕ quyền suy đoán vô tội, thí dụ, việc đ̣i hỏi bị cáo phải mang c̣ng, xiềng xích hay mặc quần áo tù trong pḥng xét xử.
6. Quyền được thông báo tức thời bản chất và lư do buộc tội h́nh sự
Trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào chống đương mọi người đều phải hoàn toàn b́nh đẳng để “được thông báo tức thời và thật chi tiết bằng ngôn ngữ mà anh ta hiểu được về bản chất và lư do sự buộc tội anh ta.”[1][1] Bổn phận thông báo này có liên quan đến sự mô tả pháp lư thật chính xác về tội phạm (“bản chất”) và về những sự kiện nằm bên dưới nó (“lư do”) và do đó rộng hơn những quyền tương ứng được đưa ra theo Điều 9(2) của ICCPR áp dụng cho việc bắt giam.[1][1] Nhân tố cơ bản là thông tin được cung cấp phải đầy đủ để cho đương sự chuẩn bị việc bào chữa.
Khi nào thông tin được xem là được cung cấp “tức thời” đă không được lư giải một cách đồng bộ, nhưng thường trùng hợp với lúc “đưa ra lời buộc tội hay ngay sau đó, với việc mở cuộc điều tra sơ bộ của ṭa án hay với việc lập ra một phiên toà khác nào đó làm nảy sinh việc xóa bỏ sự t́nh nghi chính thức một con người cụ thể.”[1][1] Thông tin cũng phải được cung cấp cho bị can bằng ngôn ngữ mà đương hiểu được, có nghĩa là phải ra lệnh phiên dịch và h́nh thức phiên dịch, nói hay viết, sẽ tuỳ thuộc vào cách thể hiện “sự buộc tội” ngay từ đầu. Cáo trạng đương nhiên phải được biên dịch.[1][1)
7. Quyền hưởng thời gian và các định chế thích hợp để chuẩn bị việc bào chữa
Điều 14(3)(b) của ICCPR qui định rằng trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người đều được quyền “Có thời gian và những định chế thích hợp để chuẩn bị cho việc bào chữa của ḿnh và được liên lạc với luật sư tư vấn theo sự lựa chọn của ḿnh.”[1][1] Quyền hưởng thời gian và các định chế thích hợp để chuẩn bị việc bào chữa không chỉ áp dụng cho bị cáo mà c̣n cho cả luật sư biện hộ của anh ta[1][1] và được tuân thủ trong tất cả các giai đoạn của các thủ tục tố tụng.
Những ǵ cấu thành thời gian “thích hợp” sẽ tùy thuộc vào bản chất của các thủ tục tố tụng và những t́nh h́nh thực tế của một vụ án. Những yếu tố có thể được liệt kê ra là tính phức tạp của vụ án, sự tiếp cận chứng cứ của bị cáo, thời hạn được quy định trong luật trong nước dành cho một số hoạt động trong thủ tục tố tụng, vân vân.
Trong số những điều này, thuật ngữ “các định chế” được diễn giải là bị cáo và luật sư bào chữa phải được cho phép tiếp cận với những thông tin, hồ sơ và chứng từ cần thiết cho việc chuẩn bị việc bào chữa và bị cáo phải được cung cấp các định chế để liên lạc, bảo mật, cùng với luật sư bào chữa.[1][1] Quyền được liên lạc với luật sư tư vấn tùy chọn của một cá nhân là yếu tố quan trọng nhất của quyền hưởng những định chế thích hợp cho việc chuẩn bị bào chữa.[1][1]
8. Quyền được xét xử không bị chậm trễ quá mức
Trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người phải có quyền “được xét xử không bị chậm trễ quá mức” [Điều 14(3)(c)]” quy định này được diễn giải là quyền được xét xử đưa đến một phán quyết cuối cùng và, nếu thích hợp, là một bản án mà không được chậm trễ quá mức. Thời hạn “bắt đầu từ khi người bị t́nh nghi (bị can) được thông báo rằng các cơ quan thẩm quyền đang tiến hành những bước để khởi tố anh ta.[1][1] Việc đánh giá những ǵ có thể được xem là chậm trễ quá mức sẽ tùy thuộc vào những t́nh huống của một vụ án, nghĩa là tính phức tạp, hạnh kiểm của các bên đương sự, t́nh trạng có bị giam giữ của bị can hay không, vân vân. Tuy nhiên, quyền này không tuỳ thuộc vào yêu cầu xin được xét xử không bị chậm trễ quá mức của bị can.
Cần lưu ư rằng một người đang bị giam giữ trước khi xét xử có thể được thả ra trước khi bắt đầu xụ xét xử cho dù có bị chậm trễ quá mức hay không.[1][1]
9. Quyền tự bào chữa hay nhờ luật sư tư vấn
Quyền nhờ luật sư tư vấn trong những giai đoạn trước khi xét xử của một vụ xét xử h́nh sự, đă được đề cập trước đây trong tài liệu này,[1][1] rơ ràng là có liên quan đến quyền bào chữa trong khi xét xử được qui định trong Điều 14(3)(d) của ICCPR. Quy định này nêu rơ rằng trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người phải được quyền “Xét xử khi có mặt, và được tự bào chữa hay nhờ luật sư tư vấn theo sự lựa chọn của ḿnh; và được có luật sư tư vấn chỉ định cho đương sự, trong bất kỳ trường hợp nào mà quyền lợi của luật pháp đ̣i hỏi, và không phải trả chi phí nếu anh ta không có khả năng chi trả.” Qui định này bao gồm các quyền cụ thể sau:
(i) quyền được xét xử khi có sự hiện diện của đương sự. Đây là một trong những quyền gây nhiều tranh căi hơn khi diễn giải. Theo đúng nghĩa đen của quy định này ṭa án không được phép xét xử khi vắng mặt đương sự, đây là quan điểm thật kiên định của đa số Tổ chức phi chính phủ và, gần đây hơn, đă được sự ủng hộ của Ṭa án H́nh sự Quốc tế.[1][1] Tuy nhiên, theo HRC, các vụ xét xử khuyết tịch vẫn được phép trong một số t́nh huống nếu nhà nước đă thực hiện “đầy đủ những nỗ lực nhằm thông báo cho [bị can] về những thủ tục tố tụng của toà án sắp xảy ra, để đương sự chuẩn bị việc bào chữa cho ḿnh.”[1][1]
(ii) tự bào chữa cho ḿnh;
(iii) chọn luật sư tư vấn theo ư ḿnh;
(iv) được thông báo về quyền tư vấn pháp lư; và
(v) được nhận sự trợ giúp pháp lư miễn phí.
Hoạt động của những quyền này có thể được tóm tắt như sau: “Mọi người bị cáo buộc về một tội h́nh sự có một quyền cơ bản, không hạn chế… tự bào chữa cho ḿnh. Tuy nhiên, đương sự có thể được hưởng trước quyền này và thay v́ vậy anh ta sẽ tận dụng luật sư bào chữa, với việc toà án được yêu cầu thông báo cho anh ta về quyền được tư vấn. Trên nguyên tắc, đương sự có thể chọn luật sư theo ư ḿnh nếu có đủ khả năng. Nếu không có khả năng tài chính, anh ta có quyền để cho toà án chỉ định luật sư bào chữa miễn phí, nếu đây là điều cần thiết trong thủ tục hành chánh của toà án. Vấn đề liệu những quyền lợi của ṭa án có đ̣i hỏi nhà nước phải cung cấp sự đại diện hiệu quả cho đương sự bằng luật sư tư vấn hay không chủ yếu tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm và h́nh phạt tối đa có thể đưa ra”.[1][1]
Theo sự diễn giải thịnh hành của ICCPR, quyền tư vấn pháp lư áp dụng cho tất cả các giai đoạn của thủ tục tố tụng h́nh sự, bao gồm cuộc điều tra sơ bộ, và sự giam giữ trước khi khi xét xử.[1][1] Việc chỉ định luật sư của toà án mâu thuẫn với nguyên tắc xét xử công bằng nếu một luật sư có khả năng theo sự lựa chọn của bị can đang có sẵn và muốn đại diện cho đương sự.[1][1] Luật sư do toà án chỉ định phải có khả năng bào chữa hiệu quả cho bị can, nghĩa là, được tự do thực hiện sự phán đoán chuyên nghiệp của ḿnh và thực sự bênh vực cho bị can.[1][1]
10. Quyền chất vấn nhân chứng
Trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người phải có quyền “Chất vấn các nhân chứng của đối phương và được có sự tham dự và chất vấn các nhân chứng của ḿnh trong cùng những điều kiện như những nhân chứng của đối phương” [Điều 14(3)(e).[1][1] Quyền này là một nhân tố cốt lơi của nguyên tắc b́nh đẳng giữa các bên đương sự. Thuật ngữ “chất vấn” nên được hiểu như sự công nhận hai hệ thống chính của toà án h́nh sự, là ṭa án có chức năng điều tra và buộc tội. Nên lưu ư rằng, theo chính văn bản, sự bào chữa không có quyền vô hạn về việc có được sự tham dự bắt buộc của các nhân chứng bênh vực cho bị can, nhưng chỉ được “theo những điều kiện giống” như của các nhân chứng đối phương. Sự hạn chế này không áp dụng cho bên công tố. Khi một ṭa án khá tự do trong việc gọi nhân chứng ra toà, nó phải thực hiện điều này theo đúng nguyên tắc công bằng và b́nh đẳng giữa các bên đương sự. Điều này ủy nhiệm rằng các bên đương sự nên được đối xử b́nh đẳng khi đưa chứng cứ ra bằng cách chất vấn nhân chứng.[1][1]
Ngoài ra, Điều 14(3)(e) được diễn giải cụ thể rằng bên công tố phải thông báo cho bên bào chữa về những nhân chứng mà nó định gọi ra hầu ṭà trong khoảng thời gian hợp lư trước khi xét xử để bị can có thể có đủ thời gian để chuẩn bị cho phần bào chữa của ḿnh. Bị can cũng có quyền hiện diện trong khi nhân chứng cung khai và có thể bị hạn chế về điều này chỉ trong những trường hợp ngoại lệ, như khi nhân chứng lo sợ hợp lư chuyện trả thù của bị can.
Nhằm tránh những sự vi phạm quyền chất vấn nhân chứng chống lại ḿnh của bị can, các toà án nên đặc biệt nghiên cứu kỹ những yêu cầu về chuyện trả thù có thể xảy ra và cho phép dời các bị can ra khỏi pḥng xét xử chỉ trong những trường hợp thực sự có cơ sở vững chắc. Tuy nhiên, sẽ không có trường hợp nhân chứng bị chất vấn khi có mặt của cả bị can lẫn luật sư tư vấn. Tương tự, việc sử dụng chứng cứ của những nhân chứng vô danh khi xét xử là điều cấm, v́ nó thể hiện sự vi phạm quyền chất vấn nhân chứng chống lại ḿnh của bị can.[1][1]
11. Quyền có thông dịch viên
Trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người phải có quyền “Có thông dịch viện trợ giúp miễn phí nếu anh ta không hiểu được ngôn ngữ sử dụng ở ṭa án” [Điều 14(3)(f)].[1][1] Vấn đề chính nảy sinh của qui định này là phiên dịch như thế nào đối với những từ “được sử dụng ở ṭa án”. Trong khi cách nói rơ ràng có thể được nói đến để chỉ những thủ tục tố tụng bằng lời nói, quyền biên dịch tài liệu không được qui định một cách rơ ràng. Tuy nhiên, cả trong những văn bản của giới học giả lẫn trong thông lệ của các cơ quan về nhân quyền, người ta đều nhất quán rằng quyền có thông dịch viên bao gồm cả việc biên dịch tất cả những tài liệu có liên quan.[1][1] Như đă từng đề cập, quyền có thông dịch viên cũng có thể được yêu cầu bởi một người bị t́nh nghi hay một bị can hoặc bị cáo đang bị cảnh sát hay thẩm phán điều tra trong giai đoạn trước khi xét xử.[1][1]
Quyền có thông dịch viên áp dụng b́nh đẳng cho các kiều dân và người nước ngoài,[1][1] nhưng không thể được yêu cầu bởi một người có đủ khả năng về ngôn ngữ của toà án.[1][1] Khi được áp dụng, quyền được trợ giúp của một thông dịch viên là miễn phí và hoàn toàn không bị hạn chế v́ khả năng chi trả của bị cáo khi bị kết tội.
12. Sự cấm cưỡng bức nhận tội
Trong việc xác định bất kỳ sự cáo buộc tội h́nh sự nào đối với đương sự, mọi người phải có quyền “Không bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân ḿnh hay phải thú tội” [Điều 14(3)(g)].[1][1] Quy định này nhằm mục đích ngăn cấm bất kỳ h́nh thức cưỡng bức nào, dù là trực tiếp hay gián tiếp, về thể xác hay tinh thần, và dù là trước hay sau khi xét xử, có thể được sử dụng để ép buộc bị cáo phải chứng nhận chống lại bản thân ḿnh hay phải thú tội.
Mặc dù việc loại trừ chứng cứ đạt được bằng cách này không được quy định này công khai bao hàm, người ta diễn giải chắc chắn rằng loại chứng cứ này là không thể được chấp nhận trong khi xét xử.[1][1] Thẩm phán phải có thẩm quyền xem xét một sự cáo buộc cưỡng bức hay tra tấn tại bất kỳ giai đoạn nào của thủ tục tố tụng.[1][1] Ngoài ra, sự im lặng của bị cáo không thể được sử dụng làm chứng cứ để chứng minh sự có tội và không thể rút ra được những hậu quả bất lợi nào từ việc áp dụng quyền giữ im lặng của bị cáo.