Việt Nam & Giải Pháp Đông Dương
Bảo Dân
Đông Dương là vùng đất mà trước kia đối với thế giới Tây Phương chỉ là ư niệm và thường được gọi là Indochine gồm có 3 nước Việt, Miên, Lào. Dân số hiện nay gần 100 triệu. Tính đến nay, Việt Nam toàn cơi nước đặt dưới sự thống trị của đảng cộng sản Việt Nam khoảng thời gian dài hơn 2 thập niên: Miền Nam 28 năm; Miền Bắc 49 năm.
Sau tháng 4, 1975. Việt Nam và 2 nước Miên, Lào có cùng hoàn cảnh như nhau, mới vừa giành được độc lập, nhưng sau đó lại đắm ch́m trong những bất hạnh, chiến tranh, nghèo đói tiếp tục. Đặc biệt là, dân chúng dám liều mạng bỏ nước ra đi t́m ánh sáng tự do, làm cho thế giới và nhiều người ngạc nhiên và tự hỏi có điều ǵ bí ẩn chăng? Thật ra không có ǵ là bí ẩn, mà nguyên nhân chánh gây ra tệ trạng nầy là do những người làm chủ bán đảo nầy áp đặt định chế chánh trị sai lầm theo kiểu cộng sản toàn trị Stalin.
Sau năm 1975, các chế độ không CS của các quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương hoàn toàn sụp đổ, chẳng những không đem lại ḥa b́nh cho vùng nầy, mà tạo thêm sự xung đột cả vùng Đông Nam Á, bắt nguốn từ sự giao thiệp giữa các quốc gia: Trung Quốc, Việt Nam, Miên và Lào.
Muốn t́m giải pháp cho vùng nầy, trong đó có Việt Nam, chúng ta thật sự nh́n rơ thực trạng đáng buồn của nó.
I. Căn nguyên sự xung đột:
A. Lịch sử liên quan giao thiệp giữa các nước Việt Nam, Miên, Lào và Trung Quốc:
1. Trước thế chiến thứ II:
Việt Nam (VN) chịu nhiều đau khổ dưới ách thống trị của người Trung Hoa, người VN bị người Trung Hoa chinh phục hồi thế kỷ thứ 2 trước (TC), chỉ giành được độc lập sau gần 1.000 năm Trung Hoa đô hộ.
Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 13, VN bị Trung Hoa tấn công nhiều lần - năm 1407, dân VN lại rơi vào ṿng thống trị của Trung Hoa 20 năm nữa. Năm 1788, VN đánh đuổi được đạo quân xâm lược của Trung Hoa. Những cuc xâm lăng của Trung Quốc trong thời nầy, VN chỉ có phần đất ở phía Bắc của VN hiện tại. Do đó, người sống ở miền Bắc VN luôn luôn nhớ những cuộc xâm lăng của Trung Quốc, từ đó người Bắc Việt không có cảm t́nh với người bạn láng giềng phương Bắc.
Đối với Miền Nam, th́ Trung Quốc có vị thế khác. Vào thế kỷ thứ 17, nước VN chia làm hai. Trung Quốc bị nhà Măn Thanh chinh phục, do đó vào năm 1679, hàng ngàn người Trung Hoa không chịu thần phục triều đại mới, bỏ nước chạy đến Miền Nam, họ được vị Chúa Miền Nam cho thần phục, và cùng với người VN chinh phục vùng đất Sàig̣n.Vùng đồng bằng sông Cửu Long được sát nhập vào lănh thổ VN nhờ sự giúp đỡ của gia đ́nh người Hoa Kiều.
Vậy người Trung Hoa ở Miền Nam được xem như bạn đồng minh, cho đến bây giờ người Trung Hoa sống ở Miền Nam kết hôn với người VN, họ coi họ như người VN.
Vùng đất chung quanh Sàig̣n và vùng châu thổ sông Cửu Long bị người Việt Nam chinh phục, trước kia là đất của người Khmer. Khmer là một dân tộc có một lịch sử vẻ vang - trước đây nhiều thế kỷ, người Khmer xây dựng như một đế quốc gồm vùng Tây Nam Đông Dương và một phần của Thái Lan, Miến Điện, Lào và Mă lai Á hiện nay. Đến thế kỷ thứ 13 th́ đế quốc Khmer suy tàn, Khmer dần dần mất nhiều thuộc địa, rồi lại bị người Thái Lan đánh phá, họ phải nhờ các Chúa Việt Nam giúp đỡ, thay v́ giúp đỡ người Khmer, nhưng các Chúa VN lợi dụng sự yếu kém của họ, lần lần chinh phục vùng đất Sàig̣n và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, người Khmer không có cảm t́nh với nguời VN, và đương nhiên họ không muốn VN mạnh.
Đối với Lào, VN cũng có xung đột, nhưng người VN chỉ thích sống ở vùng đồng bằng, gần sông rạch, không thích sống miền rừng núi, do đó không có ư đồ chinh phục Lào. Lào lại thường bị Thái Lan tấn công đánh phá các b lạc. VN lại giúp đỡ các bộ lạc Lào chống lại Thái Lan. Đối với người VN, người Lào lại có cảm t́nh.
2. Sau thế chiến thứ II:
Việt Nam, Miên, Lào sống chung ḥa b́nh với nhau dưới thời Đông Dương thuộc Pháp. Lúc nầy, Trung Quốc quá yếu, không có vị thế nào ở Đông Nam Á.
Thế chiến thứ II chấm dứt, cộng sản chiếm chánh quyền Trung Quốc, nó khơi dậy cho 3 nước Việt, Miên, Lào nổi lên tranh đấu giành độc lập đối với Pháp. Khi Pháp bại trận Điện Biên Phủ, th́ chủ nghĩa cộng sản là chất keo hàn dính các dân tộc khác nhau mà cùng hướng đến thực hiện xă hội chủ nghĩa.
Sau khi đảng Cộng Sản Đông Dương giải tán, 3 nước Việt, Miên, Lào thành lập 3 đảng cộng sản khác nhau: Phong trào Việt Minh, Khmer Issarack, Lào Issarack (về sau thuộc Pathet Lào). Họ thành lập một mặt trận chung chống thực dân năm 1951, và nhận sự viện trợ của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa từ năm 1949. Do đó mà thắng được Pháp.
Trong hội nghị Genève 1954, cộng sản Việt Nam đại diện cho cộng sản Miên và cộng sản Lào, cố đ̣i quyền lợi cho các đồng chí của họ, như cộng sản Lào được tập trung lực lượng trong 2 tỉnh Sầm Nứa và Phong Saly trước khi Lào thành lập chánh phủ liên hiệp; phần Khmer Issarack chỉ yêu cầu được hứa cho có quyền tham dự cuc bầu cử Cam-bu-chia, nhưng sau đó bị từ chối đề nghị đó. Do đó, có khoảng 6.000 cộng sản Khmer tập kết ra Bắc Việt, c̣n một số cũng thuộc đảng cộng sản Khmer Issarack ở lại Miên tiếp tục tranh đấu bí mật chống lại chánh phủ hoàng gia, nhóm nầy về sau do Pol Pot lănh đạo, và cho rằng cộng sản Việt Nam phản bội.
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chấp chánh Miền Nam năm 1956, đă từ khước thảo luận với CSVN về việc tổng tuyển cử hai miền Nam Bắc theo như bản thông cáo chung của Hiệp Định Genève 1954 dự liệu.
Nga lại có vẻ chấp thuận cắt đôi luôn Việt Nam: Bắc Việt và Nam Việt, và cắt đôi nước Đức: Đông Đức và Tây Đức. Đại diện Nga tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đề nghị để 2 miền, Bắc Việt và Nam Việt, vào Liên Hiệp Quốc, nhưng T.T. Ngô Đ́nh Diệm cho rằng chỉ có chánh quyền Sài G̣n là có quyền đại diện cho VN.
Giai đoạn nầy cho thấy là Nga không mấy nồng nhiệt ủng hộ Bắc Việt đánh chiếm Miền Nam, trái lại Trung Cộng ủng hộ mạnh Hà Nội trong mưu đồ nầy, như vậy giai đoạn nầy, cộng sản Việt Nam thân Trung Cộng hơn Nga.
Cuộc cách mạng văn hóa ở Trung Quốc làm cho t́nh hữu nghị giữa Trung Cộng và cộng sản Việt Nam không thắm thiết như họ từng tuyên bố. Mao Trạch Đông muốn loại 2 đối thủ là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu B́nh, đă cố t́nh dùng "vệ binh đỏ" làm yếu đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cộng sản Việt Nam cho rằng Trung Quốc đă phản lại đường lối Lenin. CSVN tự xưng là môn đệ chánh thống của Lenin, rất bất b́nh đối với Trung Cng.
Trong khi đó, ở Miền Nam, Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, và cho máy bay oanh tạc Bắc Việt, cộng sản Việt Nam muốn có vũ khí tối tân chống đỡ phải nhờ vào Nga viện trợ. Trung Cộng nhận thấy thế lực Nga ảnh hưởng tăng lên ở Hà Nội, liền t́m cách giữ ưu thế đối với cộng sản Việt Nam: Trung Cộng ngăn trở đường chở vũ khí của Nga cho Hà Nội xuyên qua lănh thổ Trung Cng; Trung Công lấy cớ sốt sắng giúp đỡ Hà Nội sửa lại đường sá, cầu cống bị Hoa Kỳ oanh tạc, đă gởi vào Bắc Việt và Bắc Lào 50,000 quân công binh.
Cộng sản Việt Nam (CSVN) sợ Trung Cộng (TC) ảnh hưởng lớn, nên kín đáo loại các phần tử thân Trung Cộng chỉ huy các mặt trận ở Miền Nam như tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngt từ trần, được thay thế bởi tướng Vơ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng - 2 tướng lănh nầy thân Nga. Cuc tấn công của Hà Nội vào đầu năm 1968 Tết Mậu Thân đă được thực hiện theo lề lối Nga, cũng năm nầy Tổng Thống London Johnson đ́nh chỉ cuộc oanh kích Bắc Việt để mở hội nghị Paris.
Nhân cơ hội nầy, Hà Nội yêu cầu Trung Cộng rút quân. Trung Cộng nghi ngờ Nga xúi giục cộng sản Việt Nam trong việc thương thuyết với Mỹ.
Đầu thập niên 70, Trung Cộng đổi chánh sách của họ đối với Nga, coi Nga là kẻ thù số 1 và bắt đầu thân với Mỹ, cộng sản Việt Nam cho là Trung Cộng phản bội lư tưởng cộng sản, quyết định thân Nga chặt chẽ.
Từ năm 1972-1975, Nga viện trợ cho Hà Nội đánh chiếm miền Nam, sự giao thiệp giữa TC và CSVN trở nên ác hóa - lại có những đụng độ ở phía Bắc. Sự việc nầy cho thấy trong giai đoạn nầy, TC không muốn CSVN chiếm miền Nam, TC muốn VN thành hai nước và lấy làm bất măn khi thấy CSVN chiếm miền Nam VN.
Đối với Lào, CSVN c̣n giữ giao hảo tốt. Sau hiệp ước Genève, CSVN giúp Pathet Lào cai trị hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Saly. Năm 1959, chánh phủ Liên Hiệp Lào sụp đổ, Pathet Lào phải rút vào rừng, họ bị quân lực Hoàng Gia tấn công, họ phải nhờ CSVN giúp đỡ - Pathet Lào luôn luôn nhờ CSVN giúp đỡ - lợi dụng sự giúp đỡ này, CSVN đă cài người vào vị trí then chốt CS Lào.
CSVN bị sự cạnh tranh của Trung Cộng đối với Pathet Lào, CS Lào phải kư với Trung Cộng một hiệp ước để cho người Trung Hoa làm con đường từ Côn Ninh đến bờ sông Cửu Long, xuyên qua tỉnh Phong Saly. Trung Cộng lợi dụng cơ hội nầy đă để lại hằng ngàn binh sĩ ở Bắc Lào. Từ đó Trung Cộng xây dựng một hệ phái CS Lào, khác với hệ phái CS Lào thân VN - nhưng người Lào vẫn thích người VN hơn Trung Cộng.
Đối với CS Khmer, t́nh h́nh khác hẵn. Năm 1970, v́ muốn dùng đất Miên để làm đường chuyển quân, đạn dược để đánh chiếm Miền Nam, CSVN vuốt ve ông hoàng Sihanouk để ông ấy cho dùng lănh thổ Khmer làm đường chuyển quân tấn công Miền Nam. CSVN gởi những người Khmer Issarack trung thành với họ trở về Cam-bu-chia tiếp giáp với Miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát chặt chẽ của CSVN. Nhóm CS Khmer ở lại Cam-bu-chia năm 1954 vẫn tiếp tục chiến đấu chống ông hoàng Sihanouk, nhóm nầy sau nầy dưới sự lănh đạo của Pol Pot được TC ủng hộ. Năm 1960, một đảng CS Khmer bí mật được thành lập khác với CS Khmer Issarack được Hà Nội ủng h. Măi đến năm 1970, Sihanouk bị lật đổ, họ mới được CSVN giúp đỡ đánh lại Lon Nol. Sau khi hiệp định Paris kư kết 1973, CSVN cắt viện nhóm CS Khmer không thân họ bên trong Khmer Đỏ, và nhóm nầy đă hận CSVN đă bỏ rơi họ hồi năm 1954, nay lại càng chua chát t́nh bạn xă hội chủ nghĩa anh em.
B. Áp dụng chánh sách toàn trị theo kiểu Stalin, và hậu quả chánh sách nầy:
Sau năm 1975, các chính quyền không cộng sản trong vùng nầy đều sụp đổ, cộng sản họ nghĩ rằng họ thắng trận, đánh đuổi ngoại xâm giành được độc lập, thiết lập những chế độ cộng sản độc tài toàn chế, thực hiện xă hội chủ nghĩa. Tưởng đâu mang lại ḥa b́nh an lạc, nhưng chẵng những không mang lại ḥa b́nh, mà trái lại tiếp tục giết nhau, cuc sống dân chúng nghèo khó thêm và gây ra nhiều thảm cảnh.
V́ áp dụng chánh sách độc tài toàn trị kiểu Stalin, ở Việt Nam và Lào thực hiện ngay chánh sách trả thù, diệt hết những ǵ mà họ gọi là tàn dư chế độ cũ.
Về kinh tế, xoá bỏ hết nền kinh tế tư doanh, công nghệ, kỹ nghệ quốc doanh hoá, tất cả đều dưới quyền chỉ huy của nhà nước.
Về nông nghiệp, bắt dân làm tập thể, đưa dân đi vùng kinh tế mới nơi rừng thiêng nước độc .
Về mặt xă hội, bắt dân chúng học tập đêm ngày, nhồi nhét ư thức hệ cộng sản, chủ nghĩa xă hội, đi đâu phải xin phép, kiểm soát hộ khẩu, dùng công an trị, quản lư chặt chẽ từng khu vực, đời sống dân chúng như ở trong một nhà tù lớn.
Về giáo dục báo chí truyền thông, bỏ hết giáo án phổ thông, bắt buộc giảng dạy theo giáo án một chiều cộng sản, sách vở báo chí cũ cấm đọc, tịch thu hết hoặc đốt bỏ, văn nghệ, tân nhạc, cổ nhạc cấm nghe, cấm diễn những tuồng tích, những bản nhạc trước năm 1975.
Về tôn giáo: Phật giáo, Phật giáo Ḥa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành bị cô lập, giới hạn sinh hoạt, thành lập những ban trị sự do đảng cộng sản chỉ định.
Về chánh trị, bắt tập trung bỏ tù không thời hạn, không bản án đối với những người làm việc cho chế độ cũ như quân đội, những nhân viên hành chánh, các đảng phái, những người khác chánh kiến, những người có tiền của mà họ cho là tư bản... Nói chung họ muốn diệt hết để trừ hậu hoạn.
1975-1979. Nước Miên dưới chánh quyền cộng sản Pol Pot thảm sát hơn cả triệu (1.7triệu ) người dân Miên, chánh sách cai trị diệt chủng của Pol Pot làm cho thế giới rúng động, trong khi đó th́ Trung Cộng hỗ trợ cho chánh quyền này.
Pol Pot hận CSVN, trong thời chiến tranh đánh miền Nam, CSVN mượn vùng biên giới Miên-Việt để làm hậu cần đánh chiếm miền Nam - khi chiếm được miền Nam, CSVN chẳng những không mang ơn mà c̣n không muốn trả lại những vùng đất này. Pol Pot tàn sát nhiều người Việt sinh sống trên đất Miên, và tấn công những đơn vị CSVN chiếm đóng vùng biên giới. CSVN có lư do chánh đáng tấn công Miên, lật đổ chánh quyền diệt chủng Pol Pot, dựng lên chánh quyền CS Miên do CSVN chỉ đạo. Thật sự, lư do đánh qua Miên là do sự chỉ đạo của Nga thực hiện chánh sách bành trướng về vùng Đông Nam Á mà CSVN là chư hầu của Nga.
Trung Cộng hận CSVN phản bội, không nhớ ơn sự giúp đỡ trước kia, lại c̣n triệt để làm chư hầu cho Liên Xô thực hiện mng bành trướng vùng Đông Nam Á. Để dạy cho đàn em CSVN bài học phản bội, Trung Cộng xua quân tấn công biên giới Bắc Việt, mục đích dằn mặt giới hạn CSVN và đồng thời tiếp tục yểm trợ Pol Pot rút vào rừng chống lại chánh quyền CS Miên thân CSVN. Miên vẫn tiếp tục chiến tranh.
CSVN trả đũa lại bằng cách bài trừ, trục xuất người Hoa, hạ từng công tác những phần tử thân Trung Cộng như ông Hoàng văn Hoan (ủy viên bộ chánh trị) phải chạy qua Bắc Kinh lánh nạn. V́ chánh sách bài xích người Hoa gây ra làn sống người tị nạn cộng sản của 3 nước Việt, Miên, Lào. Hằng triệu người bỏ nước ra đi lánh nạn CS bằng mọi cách, bằng đường biển, đường bộ, đường rừng. Hằng trăm ngàn người vùi thây dưới ḷng biển cả, bỏ xác trong rừng, nạn hải tặc cướp bóc hăm hiếp, người sống sót tới bến bờ những quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Mă Lai, Singapore, Indonesia, Phội Luật Tân, Hồng Kông, v.v...
Cao điểm người tị nạn từ năm 1979 và đầu thập niên 1980. Điều đau khổ của người tị nạn liều mạng ra đi mà không biết về phương trời nào. Thực trạng này làm cho thế giới sửng sốt, tạo sự quan tâm gánh nặng cho các quốc gia đang phát triển ở Nam bộ Thái B́nh Dương về hiểm họa CS lan rộng. Điểm đáng lưu ư và ghi nhận mang ơn ngàn đời, là Hoa Kỳ, quốc gia đầu tiên, đứng ra vận động kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các quốc gia tự do Tây phương cứu vớt, định cư những người tị nạn CS Đông Dương.
Thảm cảnh này làm thức tỉnh các quốc gia từng có chánh sách ủng hộ sự tranh đấu giành độc lập của các đảng CS thuộc các quốc gia bán đảo này, và cũng chứng minh thực tế người dân 3 nước Việt, Miên, Lào không chấp nhận chế độ CS.
1975-1986, coi như 10 năm, 3 nước Việt, Miên, Lào, đảng CS cai trị, hô hào xây dựng chế độ xă hội chủ nghĩa, gây ra cho dân bao thảm cảnh, chiến tranh xung đột trong vùng vẫn tiếp tục, kinh tế kiệt quệ không lối ra. Không lẽ tiếp tục nhận người tị nạn mà không biết đến bao giờ chấm đứt, không lẽ tiếp tục viện trợ nhân đạo, kinh tế tài chánh mà đời sống người dân không được cải thiện? Như vậy, bắt buộc nhân dân của 3 dân tộc Việt, Miên, Lào, các quốc gia Tây phương nhứt là Hoa Kỳ phải t́m giải pháp ổn định phát triển cho người dân sinh sống trên bán đảo Đông Dương.
II. Vấn đề được đặt ra, xu hướng
thế giới và tiến tŕnh mô thức
giải pháp thực hiện:
Những thực trạng đau thương do hậu quả áp dụng chánh sách độc tài toàn trị của các lănh đạo đảng cộng sản ba nước Việt, Miên, Lào, làm cho các nước thế giới tự do và nhân dân thuộc ba dân tộc này tranh đấu cho tự do tiếp tục tranh đấu t́m những giải pháp để giải quyết những thực trạng mà nhân dân Đông Dương phải gánh chịu.
Các vấn đề được đặt ra để giải quyết:
- Làm sao chấm dứt được làn sóng người tị nạn cộng sản - giải pháp nhận người tị nạn định cư chỉ là giải pháp tạm thời - phải t́m nguyên nhân tận gốc để giải quyết.
- Vấn đề kinh tế: không phát triển được, đời sống nhân dân quá nghèo, lạc hậu.
- Hệ thống cai trị tàn độc - làm sao chấm dứt chế độ này.
- Đe dọa nền ḥa b́nh vùng Đông Nam Á Châu: trước năm 1990, liên minh Liên Xô và cộng sản Việt Nam, và Trung Quốc; sau năm 1990, đồng minh ư thức hệ Trung Quốc và cộng sản Việt Nam.
A. Tiến tŕnh giải quyết: 1975-1986:
Sau năm 1975, Hoa Kỳ và các nước Tây phương chỉ giúp nhân đạo cho các nước Đông Dương mới vừa giành độc lập, sau cuc Nội chiến lâu dài. Măi đến năm 1979 là cao điểm làn sóng người tị nạn, Hoa Kỳ mới đứng ra vận động Liên Hiệp Quốc và các quốc gia tự do chen vai gánh nặng nhận lănh người tị nạn định cư. Đến năm 1986, Hoa Kỳ mới có kế hoạch nghiên cứu để có chánh sách đối với các nước bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á Châu.
Tháng 07-1986, Hội Thảo Bàn Tṛn tại Bangkok, Thái Lan do Hội Đồng An Ninh Quốc Tế tổ chức, với sự tham dự của 8 phái đoàn thuộc các quốc gia sau đây:
1. Phái đoàn Hoa Kỳ:
- Ông William R. Kintner, nguyên đại sứ của Hoa Kỳ tại Thái Lan, trưởng phái đoàn.
- Tiến sĩ Joeph Churba, Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Tế, hội đoàn đứng ra tỗ chức
- Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Huy, Trường Đại Học Havard.
- Tiến sĩ Martin Sicker, Đệ Nhứt Phó Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Tế.
- Tiến sĩ Stephen B. Young, Khoa Trưởng Trường Đại Học Luật Khoa Hamline, Minnesota, nguyên Phụ Tá Khoa Trưởng Trường Đại Học Luật Khoa Havard.
2. Phái đoàn Nhựt Bổn:
- Hisatomo MatsuKane, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Nhựt Bổn.
- Ông Shinsaku Hogen, Tổng Thư Kư Viện Nghiên Cứu Chánh Sách Quốc Gia.
3. Phái đoàn Đại Hàn:
- Tiến sĩ Ki Tak Lee, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược.
4. Phái đoàn Thái Lan:
- Đại Sứ Chawat Arthayukti, thuộc B Ngoại Giao Thái Lan.
- Tướng Saiyud Kerdphol, nguyên Tổng Tư Lịnh Lực Lượng Quân Sự Thái Lan.
- Ông William Klausner, Cố Vấn, thuộc Ford Foundation và Rockeffeller Foundation.
- Nữ Tiến Sĩ Kusuma Snitwongse, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu về An Ninh và Quốc Tế thuộc Viện Đại Học Chulalongkorn.
5. Phái đoàn Mă Lai Á:
- Tiến Sĩ Zakaria Haji Ahmad, Giám Đốc Chương Tŕnh Nghiên Cứu Chiến Lược thuộc Viện Đại Học Kabangsaan.
6. Phái đoàn Phội Luật Tân:
- Chuẩn Tướng (hồi hưu) Quân Đi Phội Luật Tân Luis G. Villa Real.
7. Phái đoàn Singapore:
- Tiến Sĩ Bilveer Singh thuộc Phân Khoa Chánh Trị Học, Viện Đại Học Quốc Lập Singapore.
- Tiến Sĩ Lau Teik Soon, Chủ Tịch Viện Nghiên Cứu Quốc Tế của Singapore.
8. Phái đoàn Lào:
Gồm 3 vị đều thuộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Giải Phóng Lào Quốc:
- Ông Tianethone Chantharasy, nguyên Đại Sứ Lào ở Ấn Đ.
- Ông Khamphan Panya, nguyên B Trưởng Ngoại Giao, nguyên Đại Sứ Lào ở Hoa Kỳ.
- Tiến Sĩ Vang Shur, cháu Tướng Vang Pao.
Hội Thảo Bàn Tṛn tại Thái Lan đưa ra Bản Thông Cáo, có những điểm cần nhấn mạnh:
- Liên minh Liên Xô và Cộng sản Việt Nam, cùng với chánh sách bành trướng của Trung Quốc thật sự gây ra sự xung đột vùng Đông Dương và vùng Đông Nam Á. Muốn ngăn chận hiểm họa này, các quốc gia Tây phương, nhứt là Hoa Kỳ, phải có chánh sách tích cực, và giúp các quốc gia bán đảo Đông Dương được có tự do và có được hệ thống cai trị tốt; giúp đỡ các thành phần dân tộc người quốc gia tranh đấu cho tự do dân chủ tiến hành tranh đấu cho lư tưởng của họ. Thực tế nhứt là giúp đỡ tài chánh và những điều kiện ngoại giao, nhân đạo.
Bản thông cáo ở phần do:
"....Chẳng những xét lại phần ḿnh đối với Đông Nam Á Châu, Hoa Kỳ phải có những cố gắng mới để Hà Nội chịu rút quân ra khỏi Cam-bu-chia mà không dọn đường cho một sự thỏa hiệp với Trung Cộng về Đông Dương. Việc nghiên cứu t́nh thế về nước Lào sẽ thấy tham vọng quá đáng của Hà Ni. Sự cải thiện gần đây của các lực lượng Khmer chiến đấu chống sự chiếm đống của cộng sản Việt Nam làm cho Hà Nội bị ngăn trở, nhưng các lực lượng kháng chiến cần phải tăng cường thêm nữa. Việc giúp đỡ nhiều hơn cho các lực lượng quốc gia Khmer về mặt quân sự bắt buộc Hà Nội phải thương thuyết nghiêm chỉnh về tương lai nước Cam-bu-chia. Một giải pháp hợp lư và lâu dài cho vấn đề Cam-bu-chia có thể đạt được qua sự ḥa giải giữa các tổ chức chánh trị Khmer. Trong tương lai, số phận của Khmer Đỏ phải do chính dân Khmer giải quyết lấy.
Một khi cộng sản Việt Nam đă không thành công trong mưu toan chế ngự Cam-bu-chia, họ sẽ ít có nhu cầu liên minh chặt chẽ với Liên Xô hơn hiện nay và như vậy họ sẽ phải t́m một sự dàn xếp mới về mặt địa lư chánh trị. Trái lại, nếu họ chiến thắng ở Cam-bu-chia, họ sẽ hăng hái hơn trong việc tiếp tục dùng chánh sách đe dọa các nước khác.
Các cố gắng của Hà Nội để duy tŕ sự đô hộ Cam-bu-chia và Lào là một mối nguy cho nền an ninh của Thái Lan trong một tương lai gần. Một Đông Dương trung lập sẽ đóng góp vào nền ḥa b́nh Á Châu nhiều hơn là sự tiếp tục liên minh giữa Moscow và Hà Nội."
Lộ tŕnh đă vận hành để đưa đến những lưu ư chiến lược của Hội Thảo Bàn Tṛn Bangkok từ thảm cảnh của người tị nạn Đông Dương và sự đe dọa ḥa b́nh vùng Đông Nam Á, Hoa Kỳ và các nước tự do Tây phương cùng với Liên Hiệp Quốc cứu vớt và định cư ổn định người tị nạn. Đặc biệt, bắt đầu nghiên cứu sách lược t́m giải pháp chấm dứt những chế độ gây ra những thảm cảnh này.
Bản Thông Cáo Hội Thảo Bàn Tṛn Bangkok Thái Lan đă nêu rơ mối nguy của liên minh Liên Xô và Việt Nam. Chánh sách bành trướng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô ảnh hưởng chế ngự vùng Nam Bộ Thái B́nh Dương mà cộng sản Việt Nam là chư hầu thực hiện chánh sách này. V́ vậy, Hoa Kỳ và Tây phương cùng với các nước Hiệp Hội Đông Nam Á (ASEAN), Úc, Tân Tây Lan và Nhựt cùng một quan niệm là giải quyết chánh quyền Hà Nội.
Trung Quốc cũng đồng ư với quan niệm này, nhưng họ muốn lật đổ chánh quyền Hà Nội rồi lập lên chánh quyền cộng sản khác thân họ, do đó, trong Bản Thông Cáo Hội Thảo Bàn Tṛn Bangkok có đề nghi giải pháp trung lập vùng Đông Dương để Trung Quốc có thể dễ chấp nhận hơn, và cũng để Trung Quốc áp lực Khmer Đỏ giải quyết vấn đề Cam-bu-chia. Đối với Liên Xô, Hoa Kỳ và Tây phương bắt đầu tấn công Liên Xô bằng chánh sách kinh tế tài chánh, truyền thông, điện toán v́ Liên Xô thấm mệt chạy đua vũ khí chiến lược với Hoa Kỳ, rồi sa lầy chiến trường A Phú Hăn, c̣n phải nuôi Hà Nội đánh chiếm Cam-bu-chia. Đầu thập niên 1980, Liên Xô lâm vào t́nh trạng kiệt quệ kinh tế, do đó khuyến cáo Hà Nội rút quân khỏi Cam-bu-chia.
Sự phát triển khoa học kỹ thuật của thế giới tự do Tây phương đạt đến tŕnh độ điện toán làm cho Liên Xô nhận rơ thế yếu kém văn minh của ḿnh, nếu Liên Xô muốn tồn tại phải đi theo con đường canh tân hóa để đạt được tŕnh độ khoa học điện toán như các quốc gia tự do Tây phương. Như thế, Liên Xô phải chấp nhận cải tổ sâu rộng th́ cái thế tuyệt chiêu của cộng sản là: "bịt kín và nói láo" bị phá vở.
Ông Milkhai Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Nga nhận rơ thế yếu của Liên Xô, ông đưa ra chánh sách "Tái Thiết Tái Cơ Cấu" (Perestroika). Ông dự định chỉ thay đổi một phần về kinh tế, nhưng vẫn giữ chế độ cộng sản. Ông cũng lo sợ trong Nội bộ đảng chống đối ông hay ngăn cản ông thực hiện chánh sách này, ông đưa thêm chánh sách "Cởi Mở" (Glasnost), là cho tự do đóng góp ư kiến phê b́nh. Ông lại được nhiều người ủng hộ đối với chánh sách Tái Thiết Tái Cơ Cấu - đặc biệt ông Milkhai Gorbachev được nhiều học giả, nhà luật học, những nhà nghiên cứu chánh trị Tây phương giúp đỡ ủng hộ bằng cách tổ chức nhiều cuộc hội thảo đàm luận về chánh sásh mới của Nga.
Những viện nghiên cứu về chánh trị ở các trường đại học lớn cũng đă giúp ông về mặt lư thuyết, tuyên truyền - như ở Canada, trường Đại Học Simon Fraser (SFU) thuộc tỉnh British Columbia, Canada, đă tổ chức một cuộc hội thảo với đề tài "Hậu chiến tranh lạnh- trật tự mới thế giới" vào giữa năm 1987, làm cho thế giới Tây phương thấy con đường Liên Xô phải đi.
Về phía Trung Quốc - trong giai đoạn này- họ rất bực bội sự hiện diện Liên Xô trong vùng, Liên Xô liên kết với cộng sản Việt Nam bành trướng thế lực mà Trung Quốc không sao loại trừ và ngăn chận nổi. Do đó, Trung Quốc coi Liên Xô và cộng sản Việt Nam là kẻ thù số một. Trung Quốc không cách nào khác hơn là hợp tác với Hoa kỳ chống lại chánh sách bành trướng của liên minh Liên Xô và cộng sản Việt Nam ở vùng Đông Dương và Đông Nam Á Châu. Trung Quốc lúc nào cũng muốn lật đổ chánh quyền Hà Nội; do đó, Trung Quốc yểm trợ cho những lực lượng người Việt chống lại Hà Nội bên trong V́ệt Nam.
Người Việt Nam tị nạn cộng sản được định cư ở các quốc gia Tây phương như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức, v.v... cao điểm vào năm 1979-1982 và tiếp tục sau đó, rồi dần dần chấm dứt vào những năm gần đây. Người Việt lưu vong hải ngoại vẫn tiếp tục con đường tranh đấu chống chế độ Hà Nội bằng mọi h́nh thức, và luôn luôn với hoài bảo là làm thế nào chấm dứt chế độ cộng sản để xây dựng một nước Việt Nam có được chế độ dân chủ tự do thật sự. Để thực hiện nguyện ước này, người Việt hải ngoại thành lập nhiều đoàn thể tranh đấu, nhưng phương thức tranh đấu có khác nhau - có đoàn thể chủ trương cách mạng chủ trương lật đổ chánh quyền Hà Nội bằng sức mạnh quân sự, do đó, các lực lượng này t́m mọi cách trở về nước lập chiến khu kháng chiến.
Trong thời kỳ Trung Quốc coi Liên Xô và Việt Nam là kẻ thù, Trung Quốc rất muốn lật đổ chánh quyền Hà Nội, do đó Trung Quốc sẵn sàng hỗ trợ các lực lương chống cộng sản Việt Nam vô điều kiện. Một số đoàn thể v́ quan niệm vị trí địa dư của Trung Quốc chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc, nhưng có điều quan trọng là Trung Quốc là một nước cộng sản, họ chỉ hận nhóm cầm quyền Hà Nội làm chư hầu cho Liên Xô chế ngự vùng Đông Dương và bành trướng vùng Đông Nam Á Châu, cho nên họ chỉ muốn lật đổ Hà Nội, để đưa những cộng sản thân họ lên lănh đạo một nước Việt Nam cộng sản mà thần phục Trung Quốc.
Việc này, đối với những đoàn thể v́ nóng ḷng có phương tiện tranh đấu nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc, có một lập luận chiến lược, là lật đổ chánh quyền cộng sản Hà Nội được rồi tính sau! Nhưng đối với Trung Quốc không dễ ǵ đi ngoài quỹ đạo của họ, mặc dù họ tuyên bố giúp đỡ vô điều kiện. Đối với người Việt Nam, không lạ ǵ giả tâm của Trung Quốc, cho nên có một số đoàn thể không nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc mà chỉ cần Trung Quốc áp lực cộng sản Việt Nam, và chấp nhận giải pháp trung lập cho cả 3 nước: Việt, Miên, Lào mà Trung Quốc có một vị thế đàn anh ở Đông Dương và Đông Nam Á Châu, c̣n loại được ảnh hưởng của Liên Xô trong vùng. Nhưng cái tham vọng của Trung Quốc là muốn lật đổ chánh quyền cộng sản Hà Nội, rồi lập lên chánh quyền cộng sản khác mà lănh đạo phải là người thân họ, chẳng hạn như ông Hoàng văn Hoan (ủy viên chánh trị bộ CSVN) bị thanh trừng chạy qua Trung Quốc. Trung Quốc rất muốn lật đổ chánh quyền cộng sản Hà Nội để đưa ông Hoàng văn Hoan lên lănh đạo.
Đối với Miên và Lào, Trung Quốc cũng muốn lật đổ những chánh quyền cộng sản Miên, Lào rồi đưa những người lănh đạo thân họ lên nắm chánh quyền. Do đó, mặc dù Trung Quốc chống liên minh Liên Xô và Việt Nam, nhưng Trung Quốc muốn vùng Đông Dương phải là những nước cộng sản mà những người lănh đạo được họ chỉ huy. Từ quan niệm như vậy, trái với quan niệm của những người Việt, Miên, Lào chiến đấu cho tự do, và cả những nước dân chủ tự do như Hoa Kỳ, Nhựt và các nước vùng Đông Nam Á, cho nên giải pháp trung lập vùng Đông Dương được nêu lên trong Bản Thông Cáo Hội Nghị Bàn Tṛn ở Bangkok Thái Lan năm 1986, là giải pháp lư tưởng trong t́nh trạng cộng sản Liên Xô, Việt Nam, và Trung Quốc xung đột nhau, để cho Trung Quốc được mối lợi và trong cái thế chấp nhận cho vùng Đông Dương được trung lập.
Nếu có được một giải pháp như vậy th́ ba nước Việt, Miên, Lào được các nước Tây phương, Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ ủng hộ xây dựng phát triển, đồng thời tiến hành xây dựng một chế độ mới dân chủ tự do, hầu để các dân tộc vùng này có đời sống ḥa b́nh, ổn định phát triển, không c̣n đi tỵ nạn nữa, và tạo được đời sống ổn định cho cả vùng Đông Nam Á.
Về phía Miên: sau khi cộng sản VN rút quân, phe Khmer nắm chánh quyền được Hà Nội hỗ trợ dựng lên, một phe Khmer Đỏ được Trung Quốc hỗ trợ, hai phe cộng sản Khmer tiếp tục đánh nhau. Khmer Đỏ không được thế giới thiện cảm ủng hộ v́ chánh sách diệt chủng của Pol Pot, chỉ có Trung Quốc ủng hộ họ mà thôi. Để ngăn chận và chấm dứt sự thảm sát ở Miên, Liên Hiệp Quốc và các nước Tây phương bắt tay vào việc t́m giải pháp cho Miên, dựa theo tinh thần hàn gắn dân tộc và đề nghị một chánh phủ liên hiệp.
Về phía Lào: chánh quyền cộng sản Lào chịu ảnh hưởng Hà Nội, nhóm cộng sản Lào thân Trung Quốc yếu thế hơn, lực lượng Hmong được Hoa Kỳ ủng hộ. Hội Nghị Bàn Tṛn Bangkok, Thái Lan, có ông Tiến sĩ Vang Shur, cháu của Tướng Vang Pao tham dự, đại diện cho lực lượng kháng chiến Lào.
T́nh h́nh Việt Nam: quân đội cộng sản Việt Nam rút khỏi Miên theo lệnh của Liên Xô, v́ Liên Xô tuyên bố không thể viện trợ tài chánh cho Hà Nội được nữa. Liên Xô lâm vào t́nh trạng kiệt quệ kinh tế, không chịu nổi phải rút quân ra khỏi A Phú Hăn.
Liên Xô bắt đầu thực hiện chánh sách Tái Thiết Tái Cơ Cấu và Cởi Mở của ông Gorbachev, thế lực ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Dương và Đông Nam Á bắt đầu mất dần. Hà Nội không c̣n cách nào khác hơn là phải rút quân ra khỏi Miên, trong khi đó được Hoa Kỳ khuyến khích rút quân ra khỏi Miên sẽ được Hoa Kỳ viện trợ nhân đạo và giúp đỡ kinh tế.
Nhưng cộng sản Việt Nam âm mưu gạt gẫm Tây phương, chỉ rút quân một số ít để các nước Tây phương thấy, bên trong để lại số lớn cán bộ để kềm chặt Miên, đồng thời ra lệnh lấy vợ Miên, nhập quốc tịch Miên, dụng ư thôn tính Miên và xây dựng chánh quyền Miên hoàn toàn thân Hà Nội. Để lấy ḷng Hoa Kỳ và Tây phương để giải tỏa bế tắc kinh tế, Hà Nội tuyên bố chánh sách "Đổi Mới" mở rộng kinh tế về hướng tự do, mời gọi ngoại quốc đầu tư, áp dụng phần nào kinh tế tư doanh - nhưng về chánh trị vẫn tiến lên xă hội chủ nghĩa.
Muời năm (1975-1986), ba nước Việt, Miên, Lào, hoàn cảnh giống nhau, chẳng những không ổn định mà c̣n thụt lùi. Hà Nội thống lănh vùng này, nhưng lại kiệt quệ kinh tế, do đó, đảng CSVN bắt đầu thay đổi chánh sách t́m lối ra. Tây phương, nhứt là Hoa Kỳ, đưa ra lộ tŕnh giải quyết về nhân quyền, đặc biệt là t́m giải pháp chánh trị cho vùng này.
Đầu thập niên 1990, Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ chỉ c̣n lại một số nước cộng sản như: Trung Quốc (TQ), Việt Nam, Miên, Lào, Bắc Hàn và Cu Ba.
Chánh sách thân Liên Xô của cộng sản VN không c̣n nữa, đối với Trung Quốc mối thù năm 1979 vẫn c̣n đè nặng, TQ vẫn c̣n lạnh lùng đối với Hà Nội. Chánh sách "đổi mới" của CSVN được thi hành chánh sách cởi mở kinh tế bắt đầu ở những tỉnh Miền Nam, đầu năo là Sài G̣n (thành phố Hồ chí Minh).
Chánh sách đổi mới về kinh tế bắt đầu từ năm 1986-1992, VN dễ thở hơn, có tiến bộ về mặt kinh tế, nhưng ngược lại về mặt ư thức hệ cộng sản bị lung lay, trong đảng có khuynh hướng cải cách, muốn mở rộng cởi mở kinh tế thêm nữa. Khuynh hướng bảo thủ lo sợ lung lay chế độ xă hội chủ nghĩa, giới hạn sự cởi mở kinh tế. Phe chủ trương mở rộng kinh tế nghiêng về phía Tây phương; phe bảo thủ nghiêng về phía TQ để giữ thành tŕ xă hội chủ nghĩa. Hai phe tương nhượng nhau cùng chấp nhận cởi mở có giới hạn.V́ vậy mà đảng CSVN chấp nhận hoà hoăn với TQ, một nước lớn có đồng ư thức hệ và vẫn giữ quan hệ ngoại giao thiện cảm với các nước Tây phương và Hoa Kỳ để phát triển kinh tế.
Từ khi Nga sụp đổ, Hà Nội áp dụng chánh sách đi dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, dụng ư là vừa phát triển kinh tế mà giữ được chế độ xă hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn này, Hà Nội vẫn coi Hoa Kỳ là kẻ thù cần phải cảnh giác và ngăn chận. Chánh sách của nhóm bảo thủ ở Hà Nội chọn Trung Quốc là đồng minh và triệt để tuân lệnh TQ, hiện rơ nét là vào năm 1993, Hà Nội rêu rao chánh sách cởi mở phát triển Việt Nam để kêu gọi ngoại quốc đầu tư và thuyết phục nguời Việt tị nạn lưu vong về nước thăm nhà và làm ăn. Chủ trương phát triển Việt Nam của CSVN, muốn cho Hoa Kỳ giúp nhiều về kinh tế th́ Hà Nội phải chấp nhận một số điều kiện của Hoa Kỳ.
Trong kế sách này, Hà Nội muốn bắt nhịp cầu với Washington để mưu cầu được lợi về kinh tế. Nhân cơ hội một chế độ cai trị độc tài toàn diện có kẽ hở th́ thế chiến lược đă được chuẩn bị từ lâu, bắt đầu thực hiện mô thức giải pháp cho Việt Nam. Đó là việc h́nh thành một phong trào trong nước đứng dậy với danh xưng Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ (PTTNDT & XDDC) do Giáo sư Nguyễn Đ́nh Huy là Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo (đến nay tháng 05-2003 vẫn c̣n ở tù), cùng với cựu Dân Biểu, nhà báo Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân làm Phó Chủ Tịch (ở tù, được thả ra năm 2000, đă măn phần năm 2001), và một số nhà cách mạng đă từng hoạt động chánh trị ở Miền Nam, một số nhà trí thức thuộc mọi khuynh hướng đều nh́n thấy sự bế tắc mà Việt Nam cần một lối ra.
Phong Trào tuyên bố Cương Lĩnh Chánh Trị, đưa ra quan niệm tư duy mới Đại Phản Tỉnh, kêu gọi mọi thành phần dân tộc trở về nếp tư tưởng Dân Tộc Quốc Gia - Việt tính, hầu để tạo điều kiện ḥa hợp, đoàn kết dân tộc cho người dân Việt Nam được ổn định xây dựng phát triển đất nước.
Thế chiến lược thực hiện trước tiên là Phong Trào tuyên bố công khai tổ chức cuộc Hội Thảo Phát Triển Việt Nam tại Sài G̣n. Thành phần tham dự gồm những chánh khách Tây phương: những nhà luật học, kinh tế; thượng nghị sĩ, dân biểu thuộc quốc hội các quốc gia Tây phương như: Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain, Thống Tướng Westmoreland, v.v... Gần tới ngày hội thảo, Hà Nội biết thành phần tham dự và Nội dung chương tŕnh hội thảo, có một bài thuyết tŕnh làm cho Hà Nội hoảng hốt, đó là bài của Thượng Nghị Sĩ John McCain "Hoa Kỳ và Việt Nam là đồng minh chiến lược".
Đích thân Lê Đức Anh phải chạy qua Bắc Kinh thỉnh ư, cuối cùng ra lệnh huỷ bỏ cuc hội thảo, đàn áp Phong Trào, bắt các vị lănh đạo cầm tù không hạn định. Từ đó, Hà Nội thần phục Bắc Kinh, cố giữ chế độ xă hội chủ nghĩa, tiếp tục cai trị nhân dân Việt Nam.
Việc đàn áp Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ l rơ bản chất mưu chước của Hà Nội đối với các quốc gia Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ, có hảo ư giúp người dân Việt Nam có được đời sống tự do sung túc.
Sau khi Nga và các nước Đông Âu chấp nhận đi theo con đường dân chủ hoá, Nga không c̣n thế lực vùng Đông Nam Á, Liên Xô và Việt Nam không c̣n là đồng minh nữa. Giờ đây, Trung Quốc và Hà Nội trở thành mối đe dọa vùng này, nhưng đối với Miên và Lào th́ Hà Nội và Bắc Kinh tranh giành ảnh hưởng, do đó, Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ, Nhựt bắt đầu thực hiện giải pháp cho Miên khi quân đi cộng sản Việt Nam đă rút quân khỏi đất Miên.
B. Mô thức và kết quả giải quyết từ năm 1990 đến nay và tiếp tục những thập niên tới.
Từ khi Liên Xô sụp đổ, khối cộng sản Đông Âu tan ră, chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới bắt đấu đi vào một trật tự mới: Duy tŕ hợp tác để tồn tại - Dân Chủ - Ḥa B́nh - Phát Triển.
Riêng phần Đông Dương và vùng Đông Nam Á, các nước c̣n duy tŕ ư thức hệ cộng sản, đảng cộng sản vẫn thống trị, đứng đầu là Trung Quốc, các nước đàn em là Việt Nam, Lào, Bắc Hàn, và Miên.
Nhưng đối với Miên lại có điều kiện mà thế giới quan tâm là chánh sách diệt chủng do Khmer Đỏ dưới sự lănh đạo của Pol Pot gây ra, phe Khmer Đỏ Pol Pot được Trung Quốc hỗ trợ; một phe Khmer Đỏ nắm lấy chánh quyền Miên, chịu ảnh hưởng Hà Ni. Hà Nội muốn làm quan thầy Miên, không muốn Trung Quốc chiếm trọn nước Miên, và Trung Quốc hỗ trợ Pol Pot, với chánh sách diệt chủng, giết nhiều dân Việt Nam sinh sống trên đất Miên.
Do đó, phe Khmer Đỏ thân Việt Nam cầm quyền Miên chấp nhận giải pháp chánh phủ liên hiệp của Liên Hiệp Quốc đề nghị.
Việc đầu tiên là các lực lượng Khmer khác nhau chấm dứt giết nhau và ngồi lại, t́m giải pháp sinh tồn cho dân tộc Miên, dưới sự giám sát của quốc tế.
Chánh phủ Liên Hiệp Miên được thành lập năm 1992, gồm các phe như là phe Khmer Đỏ do Hun Sen lănh đạo, phe Khmer Hoàng Gia Sihanouk, do con trai ông cầm đầu, một số đảng phái quốc gia khác. Riêng phe Khmer Đỏ Pol Pot thù phe Khmer thân Việt Nam và tự ái dân tộc quá đáng, không tham dự chánh phủ liên hiệp, rút vô rừng chiến đấu nữa, cuối cùng bị tiêu diệt tan ră; c̣n một phe Khmer Tự Do của ông Son San được Tây phương ủng hộ trợ giúp, nhưng Nội bộ tranh giành nhau, không tham dự chánh phủ liên hiệp rồi cũng ră.
Chánh quyền liên hiệp Miên làm việc lúc đầu hết sức khó khăn, nhưng nhờ các quốc gia dân chủ tự do Tây phương như Hoa Kỳ, Canada, Úc, và Nhựt giúp đỡ về mọi mặt, từ việc tiến tŕnh sinh hoạt dân chủ có tranh chấp nhau, th́ thảo luận với nhau t́m giải pháp chứ không dùng thủ đoạn giết nhau; những trợ giúp về kinh tế, tài chánh của các cơ quan ngân hàng thế giới như Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), những trợ giúp về nhân đạo, y tế, giáo dục, môi sinh, ... làm cho người dân Miên t́m lại đời sống tự do của con người.
Tiến tŕnh dân chủ hoá ở Miên khởi hành bằng mô thức chánh phủ liên hiệp- sở dĩ các thành phần dân tộc ngồi lại với nhau được là v́ cùng chấp nhận quan niệm sinh tồn dân tc. Điều này, được thể hiện qua sự quyết định từ bỏ ư thức hệ Marx-Lenin. Việc từ bỏ chế độ xă hội chủ nghĩa mà đảng cộng sản Miên (CPP) thuộc phe Khmer Đỏ cầm quyền giải quyết bằng cách mở cuc trưng cầu dân ư các đảng viên đến cấp hạ tầng cơ sở làng xă đều đồng ư từ bỏ con đường cộng sản chủ nghĩa.
Điểm đặc biệt đáng lưu ư, là những người lănh đạo cộng sản Miên, họ can đảm và đứng về sự phúc lợi của nhân dân Khmer mà giải quyết chứ không bảo thủ bám quyền. Họ tiếp tục được nhân dân ca ngợi và tín nhiệm họ lănh đạo trong chế độ mới dân chủ tự do, như ông Hun Sen là thủ tướng nước Miên hiện nay. Ông là người lănh đạo cộng sản cũ, chấp nhận làm dân chủ thật sự, ông vẫn được nhân dân tín nhiệm lănh đạo từ khi chánh phủ liên hiệp năm 1992-1996 và được Quốc Hội Hoàng Gia tín nhiệm vai tṛ thủ tướng 1996-2002.
Cuc bầu cử đại biểu xă ấp cuối năm 2001, được các viện nghiên cứu dân chủ Hoa Kỳ và các nước Tây phương giúp đỡ về tài chánh và huấn luyện cách thức bầu cử, cuộc bầu cử hạ tầng cơ sở làng xă Miên thành công tốt đẹp. Nước Miên đă vượt thoát vùng biển máu, nuớc Miên có một hiến pháp mới chấp nhận hoàng tộc (Kingdom) là quyền lực danh dự tối cao, chấp nhận lư tưởng tự do làm nền tảng định chế chánh trị dân chủ, cờ nước Miên được thay đổi, chính giữa lá cờ là huy hiệu ngôi chùa tháp. Tiến tŕnh dân chủ Miên thành công, đó là dấu hiệu khởi đầu cho ba nước Đông Dương đi vào tiến tŕnh dân chủ.
Lào, sớm muộn ǵ cũng phải đi theo con đường dân chủ hóa, v́ Lào hiện nay không c̣n xung đột đưa đến cảnh chém giết nhau. Quốc tế đang t́m một giải pháp dân chủ cho Lào, có thể dựa theo mô thức chánh phủ liên hiệp của Miên. Lào cũng có vua, hoàng tộc, lực lượng H. Mong, chánh quyền và đảng cộng sản Lào cũng có hai phe, một phe thân Hà Nội, một phe thân Bắc kinh, nhưng người Lào thích người Việt Nam hơn người Tàu. Trước kia, Lào có một qui chế trung lập, mặc dù chế độ cộng sản đang cai trị ở Lào, nhưng qui chế trung lập vẫn c̣n ảnh hưởng.
Đối với Việt Nam, tiến tŕnh dân chủ hóa có nhiều phức tạp hơn, bởi v́ nhịp độ cởi mở thực hiện dân chủ là do nhóm chóp bu cộng sản Hà Nội lệ thuộc Bắc Kinh, với bản chất ngoan cố, ù lỳ, nói ngang gạt gẫm Tây phương, nhứt là đối với Hoa Kỳ. Nhưng đối với Hoa Kỳ, không dễ ǵ gạt, vả lại Hà Nội không dễ ǵ gạt dân với phương tiện truyền thông hiện nay, người dân phản ảnh thực tế chân thật là "Từ khi bang giao với Mỹ, đời sống dễ thở hơn, xă hội sung túc hơn. Không biết tại sao mấy ông cộng sản chưỡi Mỹ, chống Mỹ hoài!"
Như vậy, Hà Nội sẽ gặp khó khăn rất nhiều trong nội bộ đảng cộng sản đối với chánh sách ngoại giao với Hoa kỳ trong những ngày tháng sắp tới. Sự xung đột giữa hai phe: phe thân Tây phương với Hoa Kỳ thực hiện dân chủ để phát triển kinh tế, phe thân Bắc Kinh để giữ xă hội chủ nghĩa cai trị độc tài, kinh tế lụn bại, dân chúng nghèo mạt. Sự chọn lựa đă thấy rơ thế nguy cho bọn bảo thủ cộng sản Hà Nội.
T́nh h́nh Việt Nam ngày nay và xu hướng thế giới làm hiện rơ cái thế, mô thức giải quyết vấn nạn cho nước Việt Nam.
Sức đẩy thực hiện dân chủ của quốc tế và Hoa Kỳ:
Xu hướng thế giới và các quốc gia có ảnh hưởng mạnh vùng Đông Nam Á, và vị trí địa dư giao thương quốc tế của Việt Nam đối với Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhựt và các nước Hiệp Hội Đông Nam Á (ASEAN). Hoa Kỳ, Hiệp Hội ASEAN, Nhựt, Nam Hàn có nếp tư tưởng Dân Chủ - Hoà B́nh - Hợp Tác - Phát Triển.
Trong khi đó, Trung Quốc dùng chánh sách bành trướng bắt các nước như là Việt Nam, Miên, Lào, Miến Điện phải thần phục lệ thuộc , lúc nào cũng kiềm chế, t́m cách đưa những người lănh đạo thân Bắc Kinh lên nắm chánh quyền.
Năm nay th́ Trung Quốc không c̣n đủ sức để ảnh hưởng các quốc gia này nhiều nữa. Lư do là Nội bộ Trung Quốc gặp nhiều khó khăn.
Về mặt quần chúng, Trung Quốc không thể giải quyết tệ trạng nghèo khó ở các làng quê, công nhân bị thất nghiệp nhiều hơn nữa, chánh phủ không có tiền trả bảo hiểm lao động. Rồi lo giải tỏa các xí nghiệp quốc doanh, luôn luôn làm ăn thua lỗ để dọn đường thực hiện hiệp ước thương mại WTO, các hệ thống ngân hàng Trung Quốc phải cải thiện phù hợp với luật pháp hành chánh thương mại quốc tế.
Về mặt ư thức hệ, Bắc Kinh cảm thấy bị mất, giới lănh đạo Bắc Kinh muốn trở về chủ nghĩa Marx; v́ theo Marx, "khi phương tiện sản xuất thay đổi th́ thượng tầng kiến trúc chánh trị phải thay đổi theo". Chánh sách độc tài bạo lực kiểu Lenin- Mao trạch Đông dùng bạo lực cướp lấy chánh quyền, rồi xây dựng định chế chánh trị, trị dân, nó nhứt định phải bị lung lay và phải lo thay đổi. Những nước cộng sản thay đổi tư duy ư thức hệ chuyển hoá dân chủ, khởi hành bằng chủ nghĩa Marx (chủ nghĩa xă hội) phục hận chủ nghĩa Lenin, như ông Gorbachev (cựu Tổng Bí Thư Xô Viết) nhận thấy nếu áp dụng kỹ thuật điện toán như các quốc gia Tây phương th́ không thể nào giữ hệ thống chánh trị cũ, cộng sản được.
Điều này cho thấy rơ Bắc Kinh muốn tồn tại giống như Nga chỉ c̣n có cách phải thay đổi nhiều hơn nữa, đi dần đến nếp tư tưởng thời đại.
Bắc Kinh càng thất vọng hơn nữa là, từ khi cuộc khủng bố 11 tháng 9 ở New York, Hoa Kỳ hiện diện ở vùng Trung Á, Trung Quốc mất ảnh hưởng tại các quốc gia vùng này, chỉ có cách chịu phép hợp tác với Hoa Kỳ chống khủng bố. Do đó, Bắc Kinh để cho chánh quyền quân phiệt Miến Điện chấp nhận giải quyết Nội bộ là, thả bà Aung San Suu Kyi và chấp nhận đảng Liên Minh Dân Chủ Quốc Gia hoạt động đối lập.
Đối với Việt Nam, Trung Quốc lúc nào cũng hù dọa, tạo những áp lực ràng buộc nhóm lănh đạo Hà Nội không thể nào buông chân Trung Quốc được, như trường hợp Hà Nội chịu phép lệ thuộc để có nơi bảo vệ quyền lực cho nhóm chóp bu cộng sản VN bằng cách dâng đất, dâng lănh hải cho Bắc Kinh. Đây chỉ là cái thế tuyệt vọng của Hà Nội, v́ sức ép quốc tế để đi vào sự hội nhập phát triển cộng đồng thế giới làm cho Bắc Kinh và Hà Nội phải thay đổi. Tác động của chánh sách ngoại giao Hoa Kỳ, Tây phương trong những ngày tháng sắp tới sẽ làm cho Nội bộ nhóm lănh đạo Trung Quốc và Việt Nam phải tự giải quyết, chọn con đường canh tân hay bảo thủ ôm giữ chế độ cộng sản sản xă hội chủ nghĩa lỗi thời lạc hậu.
Từ hai khuynh hướng này, sẽ đưa đến mức độ giải quyết Nội bộ trong nhóm lănh đạo cộng sản Hà Nội lẫn Bắc Kinh, bằng chuyển hóa êm thắm hay dùng bạo lực hạ bệ nhau.
Những nhà ngoại giao, quan sát thời cuc đưa ra viễn kiến thực tế là:
"Theo con đường thực hiện phát triển kinh tế, và luôn cả về mặt tư duy ư thức hệ, th́ Việt Nam và Trung Quốc chưa biết bên nào thay đổi trước, nhưng nước nào thay đổi trước th́ lôi theo nước kia."
Xét về chánh sách và đẳng cấp bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ năm 1990 đến nay, và cũng từ khi Liên Xô sụp đổ không c̣n hỗ trợ Hà Nội mà c̣n tăng cường đ̣i nợ cộng sản Việt Nam th́ Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện chánh sách cải thiện ngoại giao với Hà Nội, khởi đầu bỏ lệnh cấm vận, hợp tác t́m hài cốt người Mỹ bị mất tích trong thời kỳ chiến tranh và những trợ giúp nhân đạo đồng thời tiếp xúc với nhau tiến tới b́nh thường hóa ngoại giao cấp đại sứ, rồi tới hiệp ước thương mại song phương.
Như vậy, chỉ c̣n đẳng cấp cao nhứt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là bạn, đồng minh chiến lược.
Về phíaViệt Nam, nhóm cầm quyền cộng sản Hà Nội chọn lựa, nếu muốn trở thành bạn với Hoa Kỳ, th́ phải phải dân chủ hóa thật sự, cách làm dân chủ như thế nào, Hoa Kỳ và Tây phương giúp hoàn thành tiến tŕnh dân chủ; về quân đội Việt Nam, sẽ được Hoa kỳ tân trang và huấn luyện trở thành bạn đồng minh bảo vệ tổ quốc. Chánh sách hỗ trợ giúp đỡ các nước cộng sản sụp đổ chuyển hóa dân chủ mà Hoa Kỳ và Tây phương đă thực hiện thành công ở nước Nga.
Nh́n lại, cách nay hơn một thập niên, đầu thập niên 1990, chế độ cộng sản Nga sụp đổ, Nga trên con đường dân chủ hóa, nhưng các nhà phân tích thời cuc Tây phương và Á châu đưa lời cảnh giác: "Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ. Hoa Kỳ và Tây phương mới thắng có một điểm, mà Hoa Kỳ và Tây phương c̣n phải giúp các quốc gia này phát triển kinh tế và hoàn thành tiến tŕnh dân chủ."
Điều này Hoa Kỳ và Tây phương đă làm đúng. Vào tuần lễ thứ ba, tháng 05, 2002, Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush và Tổng Thống Nga Vladimir Putin gặp nhau tại Moscow, trao đổi mật thiết, đồng thuận kư hiệp ước quan trọng giảm đầu đạn nguyên tử. Putin tuyên bố "Nước Nga đă hoàn thành tiến tŕnh dân chủ", và đặc biệt, Nga gia nhập khối NATO, danh từ báo chí họ viết "NATO-RUSSIA", hai cựu thù, hơn 50 năm chia cắt và 10 năm nghội ngại nhau, bây giờ trở thành bạn, đồng minh chiến lược [RUSSIA and NATO join hands - Two former foes are now joined as partners, overcoming 50 years division and a decade uncertainly (Globe and Mail, May 29, 2002)].
Biến chuyển thực tế này, làm cho Hà Nội có một quyết định mạnh mẽ hơn, chọn chánh sách bạn với Hoa Kỳ và Tây phương th́ Việt Nam được giúp đỡ phồn thạnh về kinh tế, nhân dân được hưởng no ấm hơn, chánh quyền được ca ngợi, đâu sợ mất quyền, nhân dân sẽ chọn những người đă thức thời, cầm quyền trong một chế độ mới dân chủ tự do như mọi nước cộng sản khác đă làm.
Bằng ngược lại, Hà Nội chọn chánh sách giữ chế độ cộng sản xă hội chủ nghĩa, lệ thuộc Bắc Kinh, sẽ mang tội nô lệ dâng lănh thổ, dâng lănh hải, đem đến cái hại cho Việt Nam: kinh tế lụn bại, nhân dân ta thán, Nội bộ lănh đạo đảng cộng sản sẽ phân hoá đến mức phải hạ bệ nhau bằng sức mạnh. Rơ ràng quá, một bên th́ giúp, một bên th́ hại, Hà Nội chọn bên nào?
Đối với Hoa Kỳ, dù cho Hà Nội chọn chánh sách làm bạn, đi dây, hay đối đầu, Hoa Kỳ vẫn thực hiện chánh sách ngoại giao đẳng cấp cao nhứt đối với Việt Nam, phải tiến tới là bạn. Việt Nam phải dân chủ hóa. Đây là chánh sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ trong những thập niên tới.
Mô thức giải quyết chế độ cộng sản tại Việt Nam, Hoa Kỳ thể hiện bước tích cực hơn là Viện Nghiên Cứu Chiến Lược (American Enterprise Institute - AEI) tổ chức hai buổi hội thảo ngày 20 tháng 03 và 10 tháng 04, 2002, t́m giải pháp dân chủ cho Việt Nam. Thành phần tham dự gồm những nhà nghiên cứu chiến lược của Hoa Kỳ, và những vị nghiên cứu về tư tưởng ư thức hệ, chánh trị, kinh tế, luật học của Việt Nam.
Kết thúc hai cuc hội thảo đưa ra được bản Lộ Tŕnh (Road Map) có hai điểm mấu chốt là:
1. Việt Nam phải dân chủ hóa th́ Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam phát triển kinh tế.
2. Hoa Kỳ sẽ giúp tân trang, huấn luyện quân đội nhân dân Việt Nam bảo vệ tổ quốc.
Phụ đính thêm bản L Tŕnh, có bốn giai đọan để thực hiện (4 steps).
Như vậy, Việt Nam có một thế giải quyết cụ thể rơ ràng, chỉ c̣n phần chọn lựa và quyết định của giới lănh đạo cầm quyền Việt Nam.
Vùng Đông Dương, Việt, Miên, Lào có cùng một hoàn cảnh như nhau: nước Miên nay đă là một nước dân chủ hóa; Việt Nam với chánh sách tích cực của Hoa Kỳ và sự yếu thế của Trung Quốc hiện nay, Việt Nam sẽ có cơ hội được dân chủ hóa; Lào vốn đă chịu ảnh hưởng Việt Nam, sẽ dân chủ hóa.
Ba nước Việt, Miên, Lào có một thể chế dân chủ tự do, vùng Đông Dương là thị trường kinh tế tự do với dân số gần 100 triệu dân, một thị trường lớn đang phát triển, nằm trên đường giao thương quốc tế, làm cho các nước kỹ nghệ Tây phương, Đông Nam Á Châu hăng hái đầu tư có lợi đôi bên, và cân bằng được thế lực của Trung Quốc, tạo được sự ổn định lâu dài cho vùng này.
III. Kết Luận:
Sau năm 1975, vùng Đông Dương gồm 3 nước Việt, Miên, Lào chịu sự thống trị của chế độ xă hội chủ nghĩa, 3 dân tộc chịu nhiều đau khổ, đă làm các quốc gia yêu chuộng tự do thức tỉnh và tỏ ra quan tâm t́m giải pháp chấm dứt những chế độ độc tài mọi loại trên thế giới.
V́ sự phát triển, đáp ứng nhu cầu sinh sống thăng hoa của con người tiến tới nền văn minh điện toán, nó đă làm hiện rơ bản chất cai trị lạc hậu lỗi thời, kềm hăm sự tiến bộ của con người dưới những chế độ cộng sản xă hội chủ nghĩa.
Trào lưu phát triển đă chấm dứt các chế độ cộng sản khắp nơi trên thế giới, các nước c̣n sót lại như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn rồi cũng phải bị cuốn hút theo luật của Trời định.
Hoa Kỳ đă rút nhiều kinh nghiệm sau khi rút ra khỏi Miền Nam, để Miền Nam Việt Nam sụp đổ, lọt vào tay cộng sản Hà Nội, nhưng Hoa Kỳ đạt được kết quả lớn: Khi Hoa Kỳ thay đổi chánh sách, thay v́ ngăn chận, đổi lại tấn công bằng kinh tế tài chánh, truyền thông, đặt nền tảng lư tưởng tự do phù hợp với con người, đưa đến chấm dứt cuc chiến tranh lạnh giữa khối tự do và cộng sản.
Hoa Kỳ và đồng minh vẫn tiếp tục chánh sách "Dân Chủ - Hoà B́nh - Hợp Tác - Phát Triển", hành động tích cực hơn nữa để giải quyết những nước cộng sản không chịu thức thời như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn, Cu Ba. Đặc biệt vùng Đông Dương, và Đông Nam Á Châu.
Nói chung, Hoa Kỳ đối với Việt Nam phải là bạn, là đồng minh, đó là quan hệ ngoại giao tốt, có lợi cho Việt Nam về lâu, về dài.
Việt Nam phải là một Việt Nam dân chủ tự do thật sự.
Việt Nam được tự do th́ Đông Dương là vùng tự do, với một nền kinh tế tự do mà mọi quốc gia hăng hái đầu tư đều có lợi.
Được như vậy, đó là giải pháp ḥa b́nh, cân bằng được quyền lực các quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc không c̣n ỷ thế nước lớn ôm mộng bá quyền.
Hoa Kỳ rất sung sướng, vinh danh 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ và đồng minh đă hy sinh cho lư tưởng bảo vệ tự do vùng Đông Dương, và đặc biệt đối với các chiến sĩ, nhân dân Việt Nam đă xả thân bảo vệ nền độc lập tự do dân chủ theo chiều dài lịch sử, thực hiện được nguyện vọng thiêng liêng của dân tộc Việt và Hoa Kỳ được danh dự là đồng minh cao thượng. Việt Nam và Đông Dương thật sự bước vào thời kỳ b́nh minh trong nắng mới.
Bảo Dân
Viết xong 10-06-2002
Sửa chữa 30-05-2003
Chú thích:
1. Xem tài liệu chánh trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, viết hồi đầu thập niên 198o.
2. Di Cảo I, "Cộng sản Việt Nam và nền hoà b́nh Đông Nam Á Châu - Thông cáo Hội Nghị Bàn Tṛn Bangkok, Thái Lan, 1986" - Mekong Tị Nạn xuất bản, 1990.
3. "From Coexistence to Cooperation - International Law and Organization in the Post-Cold War Era", Edward McWhenney, Douglas Ross, Grigory Tukin and Vladlen Vereshchtin Editors - Martinus Nijhoff Publishers, 1991.
4. "Far Eastern Economic Review" Magazine - "Globe and Mail" Newspaper - "National Post" - 2002