“ DI SẢN MÁC XÍT TẠI VIỆT NAM ”
GÓP Ư VỚI GIÁO SƯ ĐỔ MẠNH TRI
NGUYỄN HỌC TẬP
Người viết những ḍng dưới đây được hân hạnh tham dự cuộc Hội Luận của Giáo Sư Đổ Mạnh Tri để ra mắt quyển “ Di Sản Mác Xít tại Việt Nam ” được tổ chức tại Franfurt (Đức) ngày 30.05.2003.
Nhận thấy quyển sách biên soạn rất công phu, có giá trị để người đọc hiểu biết thực trạng Cộng Sản đă và đang trải ra trên quê hương chúng ta. Nhưng có lẽ khi viết cũng như lúc Hội Luận, v́ thời gian ngắn ngũi, nên Giáo Sư Đổ Mạnh Tri đă không làm sáng tỏ một vài quan niệm có thể gây ngộ nhận đáng tiếc, nhứt là đáng tiếc cho công tŕnh dày công nghiêng cứu của Giáo Sư, nên người viết xin được mạn phép được nêu lên một vài tư tưởng để tránh những hiểu lầm có thể xăy ra.
Cuộc Hội Luận được tổ chức tại Franfurt, như đă nói, do anh Phạm Hồng Lam, đặc trách báo chí của Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tổ chức. Trên bàn chủ toạ, ngoài Giáo Sư Đổ Mạnh Tri và anh Phạm Hồng Lam, người ta c̣n thấy có sự hiện diện của Tiến Sĩ Nguyễn Thế Việt.
Về phía chúng tôi, chúng tôi có dọn trước một số câu hỏi, dựa vào cuộc phỏng vấn của kư giả Đinh Quang Anh Thái, phỏng vấn Giáo Sư Đổ Mạnh Tri, khi Giáo Sư có dịp đến Hoa Kỳ để ra mắt quyển sách trên. Cuộc phỏng vấn đă được nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân, số 19 ( 5.2003) trích đăng từ trang 68-71. Một vài câu hỏi khác, chúng tôi trực tiếp kính hỏi Giáo Sư trong lúc Hội Luận.
V́ thời gian ngắn ngủi và có khá nhiều người tham dự đặt câu hỏi, nên chúng tôi rất tiếc không kính gởi đến Giáo Sư được tất cả những ǵ ḿnh muôn biết, trong cuộc Hội Luận đầy thích thú. Do đó chúng tôi xin được ghi lại đây những suy nghĩ của chúng tôi để qúy độc giả cùng suy tư với chúng tôi cho đất nước.
1) Giáo Sư Đổ Mạnh Tri ( GSDMT) viết trên nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân:
* “…Di Sản Mác Xít tại Việt Nam vẫn là một hiện tượng…”( trg. 68)
* “ …Và với tất cả những ǵ đă xăy ra với Đảng Cộng Sản Việt Nam, th́ chủ nghĩa ấy đă quyện vào chúng ta rồi. Cũng v́ thế, khi nói đến di sản, tôi hiểu rằng chúng ta là di sản” ( trg. 70).
Giáo Sư Đổ Mạnh Tri rất đại lượng khi quả quyết như vậy. Ư thức hệ và chế độ Cộng Sản không phải chỉ là một thực thể ở Việt Nam , mà đă trở thành “di sản” của dân tộc và hoà nhập vào con người chúng ta, vào tâm thức chúng ta để trở thành chính chúng ta, “ tôi hiểu rằng chúng ta là di sản”.
Câu xác quyết vừa kể có thể trở thành những hiểu lầm tai hại, nếu chúng ta không suy nghĩ kỷ.
a) Cho rằng ư thức hệ và chế độ Cộng Sản Việt Nam là một thực tại tai hại cho đất nước chúng ta là một chuyện, ai cũng thấy được.
Cộng Sản không những đă và đang làm cho đất nước chúng ta lầm than, nghèo đói, ngu dốt là điều không thể chối cải. Sau 28 năm cai trị của CSVN, lợi tức đầu người hàng năm của người dân Việt Nam chưa đến 400 Mỹ Kim, hàng trăm ngàn phụ nữ và trẻ em phải bán thân nuôi miệng, Việt Nam có trên dưới 2 triệu người bị bệnh Aids, có 1triệu 700 vụ phá thai chính thức trong năm qua, con người không được mảy may tôn trọng trong các quyền căn bản của ḿnh để có được một cuộc sống người cho ra người, ai cũng biết.
Tệ hại hơn nữa, với chính sách cai trị độc tài, cơ chế “ Xin-Cho” và cách thức kiểm soát của công an đều khắp khiến cho cả nước xem chuyện hành xử lừa đảo, gian dối, lường gạt như là lối sống tự nhiên: có nói không, không nói co,ù lừa đảo để được sống c̣n. Ngày qua ngày, lừa đảo, gian dối là chuyện tự nhiên, là lối sống b́nh thường ăn sâu vào tâm thức.
Bởi đó Giáo Sư Giovanni Sartori, một nhà chính trị học lỗi lạc của Ư đă nói:
“ Ai tiếp nhận một Quốc Gia từ tay Cộng Sản, họ phải khởi đầu xây dựng lại từ dưới số không” ( Giovanni Sartori, Elementi di Teoria Politica, Bologna, Il Mulino 1995, p.16).
Cộng Sản không những đă phá nát đất nước về kinh tế, tài nguyên, môi sinh, mà c̣n trồng người được theo khuôn mẫu của Hồ Chí Minh, gieo ngờ vực, bất tin cậy nhau giữa người với người. Cộng Sản đă phá nát nền tảng luân lư lành mạnh.
Không ai có thể xây dựng một xă hội lành mạnh và tích cực, đem lại phú cường trong liên đới, nếu xă hội đó không được xây dựng trên một nền luân lư lành mạnh.
Đức Khổng Tử bắt đầu xây dựng nước Tàu ở tầm mức số không, Ngài dạy cho họ tam cương ngủ thường, với xác tính rằng mọi người chúng ta từ khởi thủy trong tâm khảm đă được ban cho tấm ḷng hướng thiện:
“ Nhân chi sơ tính bản thiện”.
Chúng ta phải xây dựng lại đất nước chúng ta, với cộng đồng dân tộc mang trong tâm thức chuyện lừa đảo là lối sống b́nh dị, tự nhiên phải có.
b) Ư thức hệ và chế độ CSVN đă và đang là một thực trạng tai hại cho đất nước về cả mọi mặt.
Nói như vậy là một chuyện, nhưng xác quyết như GS ĐMT : “…th́ chủ nghĩa ấy đă quyện vào chúng ta rồi… chúng ta là di sản” là một chuyện khác và có thể gây hiểu lầm đáng tiếc.
Nếu đă quyện vào chúng ta, đă đồng hoá với chúng ta, do đó chúng ta và chủ nghĩa Cộng Sản là một hay chúng ta tất cả đă trở thành Cộng Sản, th́ chúng tôi nghĩ rằng GS ĐMT rất đại lượng.
Từ đó người ta có thể nghĩ rằng nếu “…chúng ta là di sản”, chúng ta đă đồng hoá với chủ nghĩa Cộng Sản, chúng ta tất cả là Cộng Sản trong cách ăn, thói ở của chúng ta, trong lối suy tư và hành động của chúng ta, th́ tại sao chúng ta lại c̣n đứng ra chống báng Cộng Sản làm ǵ. Không lẽ chúng ta đứng ra chống báng chính chúng ta?
Và đó cũng là ư nghĩa của một vài câu được Tiến Sĩ Nguyễn Thế Việt tuyên bố trong cuộc Hội Thảo. Tiến Sĩ Việt cho rằng trên 28 năm nay không ai lật đổ được Cộng Sản. Cộng Sản bây giờ cũng đă bắt đầu thấy những bất toàn sai trái của họ, bắt đầu thay đổi . Vậy th́ chúng ta nên ḥa hợp, giúp họ thay đổi, hơn là chống báng, gây thêm tranh chấp, hận thù đẩm máu.
Chúng tôi không có cái nh́n đại lượng như GS ĐMT.
Và chúng tôi xác tín rằng “ chúng ta” và “ di sản” là hai thực thể khác nhau, mặc dầu “ di sản” có ảnh hưởng đến tư tưởng và phương thức hành động của chúng ta trong tương lai để xây dựng lại đất nước, như GS Giovanni Sartori đă lưu ư ở trên.
Quan niệm như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng “ di sản”, nhứt là “ di sản Mác Xít” tai hại và đê tiện hoá dân tộc, không phải là một cái ǵ đă “ quyện vào chúng ta”, trở thành đồng nhất với chúng ta, và chúng ta không thể cổi bỏ được.
Lịch sử đă nhiều lần chứng minh.
- Không ai có thể chối bỏ rằng thể chế Quân Chủ đă ngự trị ở Âu Châu qua bao nhiêu thế hệ. Vậy mà cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đă xoá tan và gôït sạch bằng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân của họ, để chống lại những ǵ chà đạp nhân phẩm con người và đàn áp người dân.
- Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ 1776 của 13 Tiểu Bang thuộc địa cũng đă xoá bỏ không thương tiếc chống lại di sản áp bức của Anh Hoàng.
- Aûnh hưởng và di sản nặng nề của từ khoản thời gian sau Hiến Pháp Weimar 1919 -1945 của Rudolf Hitler, với hàng bao nhiêu triệu người bị đẩy vào ḷ sát sinh đă được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức quét sạch. Và hiện nay Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức là một trong những Hiến Pháp tiêu biểu thể chế nhân bản cao độ nhứt Âu Châu.
- Cũng vậy, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc hiện hành đă quét sách di sản của Benito Mussolini và đảng Phát Xít của ông với hàng trăm ngàn người bị chôn trong các hầm chôn tập thể. Hiến Pháp 1947 Ư Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức là hai Hiến Pháp sinh đôi, tiêu biểu cho thể chế dân chủ, tự do và nhân bản Tây Âu , sau khi đă đạp bỏ đi chế độ độc tài và vô nhân của Hitler và Mussolini.
2 ) Lư tưởng chủ quan và lư tưởng khách quan.
Ở một đoạn, sau phần thuyết tŕnh về nội dung quyển sách, Giáo Sư Đổ Mạnh Tri cho rằng lư tưởng đúng hay sai là tùy thuộc nhản quan của mỗi người. Có thể “lư tưởng” của ḿnh, ḿnh cho là đúng, nhưng lư tưởng đó chỉ là “ ảo tưởng” đối với người khác.
Nghĩ rằng GS ĐMT không phát biểu được hết những ǵ GS muốn nói trong khi phát biểu tư tưởng vừa kể và có thể gây hiểu lầm không có ǵ tốt đẹp cho quyển sách, nên chúng tôi có kính đặt câu hỏi :
- “Thưa GS, nếu như vậy, th́ đâu là chân lư khách quan mà chúng ta có thể chắc chắn xác quyết được trong cuộc sống? Như vậy chân lư hay sự thật là ǵ, GS có thể định nghĩa được không?”
- GS ĐMT : “Không, tôi không định nghĩa được. Anh có thể định nghĩa được không?
Trong môn Siêu H́nh Học ( Metaphysica), một sự việc hay một thực thể được định nghĩa:
- “ Ens est ens”: thực thể là thực thể, ( hay những ǵ thực thể là thực thể).
- “ Ens non est non ens”: thực thể không thể là không thực thể ( hay những ǵ là thực thể không thể là không thực thể: ens et non ens, tertia non datur).
Điều đó có nghĩa là nếu đă là thực thể, thực thể đó không thể là không thực thể và ngược lại, những ǵ không thực thể không thể là thực thể được.
Dĩ nhiên khi nêu lên điều đó, chúng ta phải xác nhận thực thể đang bàn là thực thể hiện thực ( in actu) hay hiện thể tiềm thế ( in potentia), nghĩa là thực thể đó hiện giờ chưa có, nhưng sẽ có trong tương lai.
Và khi đề cập đến thực thể, chúng ta thường phân loại thực thể chắc chắn ( certitudo) thành nhiều loại:
- thực thể toán học: 2+2=4. Là một thực thể không thể chối cải, bởi lẽ nếu chúng ta chối bỏ định đề vừa kể, chúng ta sẽ chối bỏ tất cả nền toán học, khoa học thực nghiệm như vật lư, hóa học hiện đại.
- Thực thể khoa học thực nghiệm: hydro+oxy=nước. Với tất cả các điều kiện về áp suất và nhiệt độ cần thiết phải có, hai nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy trong b́nh thí nghiệm sẽ cho chúng ta một phân tử nước. Dầu chúng ta có muốn nhận hay không cũng vậy.
Cũng vậy, mọi vật nặng hơn không khí đều bị trọng lực của quả đất thu hút rơi xuống đất. Một viên gạch, nặng hơn không khí, để ở cao đọâ, nếu không có ǵ cầm giữ chắc chắn sẽ rơi xuống đất. Anh muốn tin hay không cũng được, nhưng nếu anh không tin và cứ đứng dưới viên gạch, tôi buôn viên gạch rơi lổ đầu rán chịu.
- Thực thể chắc chắn nhân bản: chúng ta có thể biết được thực thể chắc chắn nhân bản bằng nhiều phương thức khác nhau:
a) bằng xem lập luận có hợp lư không,
b) bằng cách tin rằng thường th́ con người không nói dối, nếu không có mục đích bất chính nào đó: tôi chưa bao giờ thấy thánh phố New York, nhưng có người đi rồi về cho biết là New York lớn lắm. Tôi tin là có thật, v́ anh ta chắc không có lư do ǵ để lường gạt tôi,
c) bằng cách kiểm chứng lại những ǵ anh ta hứa làm có thực hiện không.
Nói tóm lại, mơ ước hay lư tưởng của một người hay một nhóm người có thể là ảo tưởng đối với người khác. Nhưng nói như vậy, chúng ta không thể phủ nhận rằng ngoài những tư tưởng, mơ ước nội tại của từng cá nhân, trên thực tế chúng ta cũng có những thực thể khách quan: “ens est ens”.
Và lư trí của chúng ta được Thiên Chúa ban cho để có thể nhận biết được, phán đoán được thực thể đó có thật hay không “ ens non est non ens”, đặc tính cũng như lợi ích hay nguy hiểm cho cuộc sống.
Trở lại vấn đề “ Di Sản Mác Xít tại Việt Nam” chúng ta đang bàn, chúng ta có thể phán đoán xem ngay ở cách lập luận thiên đàng trần gian mà họ hứa “ làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu”, hy sinh và chà đạp nhân phẩm con người hôm nay để thực hiện chủ nghĩa CS tốt đẹp hơn trong tương lai, có là một lư thuyết không tưởng không, trên 70 năm ngự trị chủ thuyết CS đă làm được ǵ cho Nga và Đông Âu, và 28 năm qua CSVN đă làm được ǵ cho dân tộc chúng ta? Đó là những thực thể chúng ta có thể kiểm chứng.
Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng chủ thuyết Cộng Sản là một chủ thuyết “ thực thể” sai lạc, chớ không phải là lư tưởng tuyệt hảo và chỉ trở thành “ ảo mộng” chỉ v́ chúng ta cho nó là ảo mộng.
Và cũng từ đó chúng ta tránh được những kết luận hấp tấp Cộng Sản Chủ Nghĩa hay thể chế dân chủ, tự do và nhân bản cũng vậy. Lư tưởng đối với người nầy, ảo tưởng đối với người khác, và ngược lại.
Tệ hơn nữa, thể chế nào cũng vậy, chúng ta đừng nên tranh đấu, hằn học, chống báng nhau, người Cộng Sản hay Không Cộng Sản cũng vậy. Bởi lẽ chúng ta không có ǵ làm định chuẩn để định nghĩa chân lư là ǵ và từ đó, chúng ta không thể biết được chân lư.
Không, chân lư có thể định nghĩa và kiểm chứng được. Chủ nghĩa Cộng Sản là chủ thể tệ hại, đê tiện hóa và chà đạp nhân phẩm con người, ai cũng có thể kiểm chứng. Thực tế là như vậy.
3 ) GS ĐMT: “ …Nhưng những ai tha thiết với tự do, những người nhiệt tính gắn bó với đ̣i hỏi giải thoát đất nước, những người nầy cần bao dung, cần đến với nhau” ( DĐGD, trg. 71).
Đọc câu trả lời vừa kể cho phóng viên Đinh Quang Anh Thái, người đọc có cảm tưởng rằng GS ĐMT rất lo lắng cho những đoàn kết và chia rẻ trong khối người Việt chúng ta:
“ Chúng ta đă nói nhiều về chia rẻ với đoàn kết…Chia rẻ cũng có mặt tích cực của nó và đoàn kết không hẳn là một thái độ cao qúy. Có sự đoàn kết của đàn cừu, của khối nầy, khối nọ, cộng đồng nọ, cộng đồng kia, tạo thành những tảng băng khô cứng…” ( DĐGD, trg. 71).
Và GS kết luận: “ Ngoài những điều kiện căn bản đó, nên bao dung với nhau” ( DĐGD, id.).
Đọc những ḍng vừa kể, ai cũng thấy được tấm ḷng tha thiết với quê hương của GS ĐMT. Nhưng chúng tôi muốn xác định rỏ hơn thế nào là đoàn kết và chia rẻ, thái độ phải có của “…những ai tha thiết với tự do, những người nhiệt t́nh gắn bó với đ̣i hỏi giải thoát đất nước” và thế nào là bao dung, luôn luôn với thiện ư để tránh hiểu lầm đáng tiếc có thể xăy ra.
a ) đoàn kết, chia rẻ và bao dung giữa những người Quốc Gia với nhau.
Chính trị học được định nghĩa là một Khoa Học Nhân Văn ( Scientia humanista) và là một “Nghệ Thuật của Những Phương Thức Có Thể” ( Possibilitatis Ars).
Là Khoa Học Nhân Văn, chính trị học có những nguyên tắc, định đề và tiến tŕnh “ nguyên nhân-hậu quả” khá chính xác của một khoa học thực nghiệm như vật lư, hóa học hay toán học.
Nhưng chính trị học cũng là một “nghệ thuật sắp xếp các phương thức có thể”. Bởi v́ chính trị học theo phương thức dân chủ là nghệ thuật sắp xếp nhiều cách giải quyết khác nhau cho một vấn đề được đặt ra. Ở một Quốc Gia dân chủ, chúng ta có nhiều cái nh́n dưới nhiều góc cạnh khác nhau trước một vấn đề. Do đó chúng ta có nhiều chính đảng khác nhau: dân chủ, cộng ḥa, xă hội, dân chủ xă hội, dân chủ Thiên Chúa Giáo, đảng xanh…
Có nhiều quan niệm và phương thức hành động khác nhau. Sự dồi dào, sung măn của dân chủ đa nguyên, đa dạng là vậy, khác với quan niệm độc đoán, đơn điệu, một chiều của các thể chế cực đoan.
Mỗi chính đảng có quan niệm, lư tưởng và phương thế hành động khác nhau, nhưng tất cả đều cùng hoạt động nhằm đem lại công ích cho đất nước và hoạt động trong khuôn khổ ư thức dân chủ, tự do và nhân bản hiến định:
- “ Mọi công dân có quyền gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, định đoạt chính hướng Quốc Gia” ( Điều 41, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
- “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, liên quan đến điều 1 và điều 20, liên quan đến việc liên hệ giữa các Tiểu Bang ( Laender) và Liên Bang ( Bund), đến việc tham dự Lập Pháp của các Tiểu Bang” ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
( Điều 1 liên quan đến việc bảo vệ nhân phẩm con người và điều 20 liên quan đến nền tảng dân chủ tự do của CHLBĐ).
- “ Các chính đảng có mục đích, hay hoạt động của các thành viên nhằm khuynh đảo thể chế hiến định, hoặc sự tồn vong của CHLBĐ là những chính đảng bất hợp hiến”( Điều 21, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Những điều trích dẫn cho thấy rằng các hoạt động đa dạng của nhiều h́nh thức đảng phái khác nhau đều phải nằm trong khuôn khổ thể chế dân chủ, tự do và nhân bản hiến định. Xác định được như vậy, việc c̣n lại của những người Quốc Gia là nhận xét, phê phán và hoạt động trong lễ độ và tương kính. Hằn học chưởi bới nhau gây chia rẻ, giảm thiểu tiềm lực đáng lư phải có của Quốc Gia. Chúng ta khác nhau, nhưng chúng ta cùng làm việc cho lợi ích chung của đất nước.
c) “ bao dung” giữa người Quốc Gia và người Cộng Sản.
Giữa người Quốc Gia và người Cộng Sản có một dị điểm “ không thể chấp nhận được”, như những ǵ Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức vừa xác nhận ở trên ( Điều 21 và điều 79, đoạn 3 ). Đó là người Cộng Sản khác với chúng ta ở việc họ có hành động trong thể chế dân chủ, tự do và nhân bản hiến định hay không. Chúng ta đang tranh đấu để đem lại cho dân tộc Việt Nam thể chế dân chủ, tự do và nhân bản hiến định, Cộng Sản độc tài, áp bức và không tôn trọng nhân quyền.
Đối với chúng ta CSVN là “ tổ chức bất hợp hiến”, không thể hoà đồng, cộng tác và chung sống được ( Điều 21 và 79, đoạn 3 Hiến Pháp CHLBĐ).
Nói như vậy không có nghĩa là người Quốc Gia là những tên đao phủ, khát máu, bất dung tha.
Mẫu gương “ bao dung ” chúng ta nên theo là gương của Chúa Giêsu trong câu chuyện “Người Thiếu Phụ Ngoại T́nh” ( Jn 8, 1-11).
Sau khi những người tố cáo người thiếu phụ có ư ném đá giết chị đều bỏ ra đi, trước cách hành xử khôn ngoan của Chúa Giêsu, Ngài hỏi chị:
- “ Nầy con, họ đi đâu cả rồi? Không ai lên án con sao?”.
- “ Thưa Thầy không”.
- “ Ta cũng vậy, Ta cũng không lên án con. Con hăy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa” ( Jn 8, 10-11).
Chúa Giêsu không lên án tội nhân :
“ Ta cũng không lên án con”,
nhưng Ngài lên án tội lỗi:
“ Con hăy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa”.
Người Quốc Gia chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể “ bao dung” đối với những người của “tổ chức bất hợp hiến”, nhưng chúng ta không thể “bao dung” đối với ư thức hệ độc đoán, đàn áp và chà đạp nhân phẩm con người của họ.HOME