Nghiên-Cứu Biên-Giới Việt-Trung: T́m Hiểu Đường Biên-Giới Lịch-Sử. Tổng Tụ-Long và biên-giới Việt-Trung

Trương Nhân Tuấn

Viết theo bài "Canton de Tụ-Long et la Frontière Sino-Tonkinoise" của Trung-Tá Bonifacy – Đăng trong La Revue Indochine

I/ Trước khi Pháp chiếm đóng An-Nam:

Trong một bài biên-khảo dẫn-chứng rất nhiều tài-liệu, ông R. Deloustal đă thuyết-phục được độc-giả của ông về tầm quan-trọng mà người An-Nam đă gắn-bó với vùng đất của họ có tên là Tụ-Long. Vùng nầy đă cung-cấp kim-loại đồng, được sử-dụng hầu như trên toàn vương-quốc, hoặc xuất-cảng qua các thương-thuyền của Ḥa-Lan hay Anh-Quốc. Nhờ ở sự kiên-tŕ mà người dân An-Nam đă thành-công trong việc bảo-toàn vùng đất nầy, chống lại sự ḍm ngó và nhiều lần xâm-chiếm của nước Tàu. Việc hôm nay sẽ không vô-ích để cho mọi người biết là bằng cách nào mà nước Pháp, đại-diện cho An-Nam chiếu theo công-ước ngày 6 tháng 6 năm 1884, đă lại nhượng vùng đất nầy cho Trung-Hoa.

Để mọi người không cảm thấy bở-ngỡ v́ đă không đọc bài biên-khảo công-phu của ông Deloustal, chúng tôi mạn phép được kể lại một cách vắn-tắt sự việc ghi lại trong bài biên-khảo đó.

Năm 1687, một thổ-ti ở Vân-Nam (Trung-Hoa) đă chiếm những vùng đất biên-giới thuộc tỉnh Tuyên-Quang và Hưng-Hóa (An-Nam). Các quan trấn-thủ tại hai tỉnh nầy lên tiếng đ̣i lại nhưng không có kết-quả.

Năm 1690, các sứ thần An-Nam có đi sứ sang Trung-Hoa, nhân dịp nầy có đ̣i lại vùng đất bị chiếm nói trên trước triều-đ́nh vua nhà Thanh. Việc đ̣i hỏi nầy không đem lại một kết-quả nào. Đến năm 1697, các sứ-thần An-Nam lần nữa đ̣i đất, triều-đ́nh Trung-Hoa ra lệnh mở cuộc điều-tra. Các quan-lại ở Vân-Nam cho rằng những vùng đất đó là nào giờ là của Tàu. Âm-mưu mờ-ám của các thổ-ty Vân-Nam v́ vậy lại không được xét tới.

Cho tới năm 1726, tổng-đốc Vân-Nam phàn-nàn rằng người An-Nam lấn đất Vân-Nam. (Ghi-chú của người viết: Việc phàn-nàn nầy đă xăy ra v́ người An-Nam đă chắc-chắn rằng những phần đất mà thổ-quan Vân-Nam xâm-chiếm là của họ. Những lần sứ-thần sang Trung-Hoa khiếu-nại đều bị thất-bại, nên họ đă tự-động đem quân chiếm lại các vùng đất nầy. Đáng ghi nhận là việc chiếm lại đất nầy đă chỉ xăy ra vào 39 năm sau). Quan-chức hai bên Việt-Hoa mới mở một cuộc phân-định biên-giới. Nhờ việc phân-định nầy người An-Nam chính-thức lấy về được 80 lư đất-đai đă bị chiếm-đoạt. Nhưng c̣n lại 40 lư, trong đó có mỏ đồng quan-trọng nhất, th́ vẫn bị giữ lại sát nhập vào phủ Khai-Hóa, tỉnhVân-Nam.

Nhiều lá thư khác đă được gởi đến hoàng-đế Trung-Hoa để đ̣i lại 40 lư đất nầy. Vua nhà Thanh ra lệnh mở cuộc điều-tra nhưng tổng-đốc Vân-Nam trả lời rằng vùng đất nầy thực sự thuộc về Trung-Hoa. Tuy vậy lệnh của vua vẫn được giữ nguyên. V́ thế viên tổng-đốc mới gởi một lá thư đến triều-đ́nh An-Nam để thông-báo và yêu-cầu gởi người đại-diện để giải-quyết. Tuy-nhiên, một thổ quan An-Nam ở vùng Binh-Di là Hoàng-Văn-Phác, lại gây sự và từ-chối không chuyển lá thư nầy. Quan Tuần-Phủ Vân-Nam e-ngại âm-mưu đột-kích của An-Nam nên thông-báo cho Tổng-Đốc Quảng-Tây pḥng-bị và tâu-báo sự việc lên vua Càn-Long đồng-thời yêu-cầu gởi kỵ-binh lẫn bộ-binh lên vùng biên-giới. Nhà vua bác bỏ việc gởi quân và phái hai sứ thần đến triều-đ́nh An-Nam để trao huấn-lệnh và khuyên-dụ dân-chúng b́nh-tĩnh. Nhưng trước khi hai sứ thần đến triều-đ́nh An-Nam th́ các sứ thần của An-Nam lại đến Bắc-Kinh trước và gởi lên vua nhà Thanh một lá thư của vua An-Nam. Lời lẻ lá thư ngoài việc biểu-lộ sự thần-phục của vua An-Nam đối với triều-đ́nh nhà Thanh, lại khéo-léo tán-dương công-đức. Vua Càn-Long rất đỗi hài ḷng nên ra chiếu-chỉ trả lại cho An-Nam 40 lư đất, gồm cả mỏ đồng, mà viên thổ-quan Vân-Nam đă chiếm trước kia. Biên-giới vùng đó được định là con sông Đổ-Chú.

Triều-đ́nh An-Nam tức thời gởi hai viên quan để nhận lại đất và lập giới-hạn vùng đó. Một viên thổ-quan Trung-Hoa lại mưu-đồ không muốn trả đất nên chỉ-định một con sông khác và cho đó là sông Đổ-Chú (chú thích của Trung-Tá Bonifacy: cũng cùng một mưu-mẹo đă xăy ra vào năm 1886, người Tàu đă đặt tên khúc sông phía thượng nguồn sông Chảy là sông Đổ-Chú.) Nhưng âm-mưu nầy đă bị bại-lộ v́ các sứ-thần đă biết vị-trí thực sự của sông Đổ-Chú. Hai bia đá được dựng lên để xác-định giới-hạn của hai nước và việc tranh-chấp biên-giới mới thật-sự chấm dứt.

Bài biên-khảo của ông Deloustal chứa đựng những dữ-kiện quí-báu về giá-trị của các quặng mỏ, về lộ-tŕnh để đi đến các mỏ nầy, về các chi-tiết tranh-chấp giữa các sứ-thần về vị-trí chính-xác của sông Đ?-Chú. Không may, trong khoảng thời-gian chiến-tranh ở vùng nầy, các làng-mạc bị tiêu-hủy hay dời đi, nhiều địa-danh đă đổi tên v́ dân đến ở là dân mới, lại nói nhiều ngôn-ngữ khác nhau, họ sống lấn-chiếm lẫn nhau bằng sức mạnh hay bằng ḥa-b́nh như vào năm 1863. Các cuộc tái tổ-chức hành-chánh, vẽ đồ-h́nh, về phía An-Nam cũng như phía Trung-Hoa đă không bao giờ chính-xác. Về phía Trung-Hoa, các nhà truyền-giáo Jésuites đă thực-hiện nhiều công-tŕnh công-phu nhưng không họ có đi lên vùng biên-giới. Họ thiết-lập đồ-h́nh vùng nầy là nhờ kết-quả qua việc thăm-hỏi. Kết-quả các việc nầy liên-hệ về địa-h́nh và lộ-tŕnh th́ ít được sử-dụng, kể cả cho người viết những ḍng chữ nầy là người trách-nhiệm hành-chánh trong vùng, đă đi tứ phía trong vùng biên-giới nầy từ nhiều năm (1894-1914). Phần liên-quan đến kinh-tế chứng-minh giá-trị của các quặng mỏ, ngược lại rất hữu-ích. Nhưng rất tiếc là công việc nghiên-cứu của ông Deloustal đă không công-bố kịp thời trước cuộc phân-giới năm1897. Việc phân-giới nầy đă làm chúng ta mất thêm đất đai. Nhưng công-tŕnh nghiên-cứu đă cống-hiến một cách ngoại-giao và một phương-cách, chúng ta hy-vọng là như thế, sẽ không phải là chung-quyết, vấn-đề lấn-đất của người Trung-Hoa.

.....

II. Lịch-sử những xung-đột và những công-ước ngoại-giao giữa nước Pháp và Trung-Hoa về vấn-đề An-Nam và vùng biên-giới nước nầy.

Dường như Trung-Hoa, dưới tư-cách là một thượng-quốc, xem An-Nam như là một chư-hầu, họ chưa bao giờ cấm cản nước nầy có liên-hệ ngoại-giao với các nước khác. Các vị Chúa (ở đây chắc có ư nói chúa Trịnh và chúa Nguyễn) ở Bắc-Kỳ cũng như Nam-Kỳ, từ thế-kỷ thứ XVII cho đến thế-kỷ thứ XVIII, đă có giao-hảo, không những với các vương-quốc thuộc Châu-Á chung-quanh mà c̣n có những tiếp-xúc với người Bồ-Đào-Nha ở Ma-Cao và người Ḥa-Lan ở đảo Java. Cuối thế-kỷ XVIII vua Gia-Long đă cho thấy cách hành-xử khác với quan-niệm của Trung-Hoa, là đă cầu viện nước Pháp mà không thấy có bổn-phận phải xin phép triều-đ́nh nhà Thanh. Bắt đầu dưới thời Minh-Mạng đă có một lănh-sự người Pháp được tin dùng. Sự can-thiệp của chúng ta để bảo-vệ các giáo-dân Thiên-Chúa-Giáo, việc chinh-phục Nam-Kỳ, dường như đă không làm tổn-thương đến nước Tàu. Do đó, sự can-thiệp chậm-trễ của Trung-Hoa được thúc đẩy không phải là do ḷng ư-muốn giúp-đỡ An-Nam chống lại Pháp, mà để lợi-dụng cơ-hội nhằm chiếm lấy một phần đất Bắc-Kỳ để nhập vào Trung-Hoa. Họ đă không thỏa-măn được như mong muốn, nhưng ít nhất, họ đă đạt được một phần là đă lấy được vùng đất mà xưa kia họ đă từng chiếm vào cuối thế-kỷ thứ XVII và nhiều vùng đất khác trên vùng biên-giới, cũng như bán-đảo Bạch-Long mà dân sống tại đây hầu hết là người Việt.

Những yêu-sách của Trung-Hoa khi xen vào giữa An-Nam và Pháp được biểu-lộ rơ-rệt vào lúc ông Rivière chiếm thành Hà-Nội. Điểm cần nhấn-mạnh là việc động binh của chúng ta bắt đầu năm 1873, với sự trợ-giúp của người Hoa, và việc nầy đă xăy ra là do nguyên-nhân đem lại bởi sự cản-trở của người An-Nam trong việc mở đường thông-thương bằng sông Hồng để vào Vân-Nam. Việc mở đường nầy nhằm mục-đích tạo việc giao-thương dễ-dàng giữa Bắc-Kỳ và miền Tây-Nam Trung-Hoa.

Năm 1874, trong thư trả lời của thái-tử Kong cho ông công-tước Rochechouart nhằm công-nhận hiệp-ước 15 tháng 3 năm 1874 kư-kết giữa nước Pháp và An-Nam, đă không ghi-nhận một phản-đối nào. Trong thư đó c̣n nói rằng Hoàng-Đế Trung-Hoa đă ra dụ cho quân-đội hoàng-gia, đă tiến trước đó vào Bắc-Kỳ để trừ quân cướp người Hoa, phải rút về.

Nhưng c̣n lại ở Bắc-Kỳ, trong vùng Lào-Kay và Hà-Giang, một tướng cướp người Hoa tên Lưu-Vĩnh-Phúc, là quân phản-loạn ở bên Tàu, đă xâm-nhập và tàn-phá vùng Thượng Bắc-Kỳ. Cuối cùng triều-đ́nh nhà Nguyễn đă phải phong quan cho tên tướng cướp nầy để mượn tay hắn trừ-khử những đám cướp khác, cung người Hoa như hắn, mà Hoang-Song-Anh, tướng cướp Cờ Vàng, là một thí-dụ. Đám quân cướp của Lưu-Vĩnh-Phúc tập-họp dưới ngọn cờ đen, được biết dưới tên là giặc Cờ-Đen.

Năm 1878, một đám cướp mới cũng của người Hoa dưới quyền của Ly-Ong-Choi, tiến vào Bắc-Kỳ. Tên cướp nầy tự nhận là ḍng-dơi người An-Nam và xưng là hoàng-đế An-Nam. Ông Tôn-Thất-Thuyết, sau nầy là kẻ thù của chúng ta, lúc đó là tuần-phủ Bắc-Ninh, đă phải nhờ bọn giặc Cờ-Đen để chống lại bọn cướp mới nầy. Ly-Ong-Choi chiếm Thái-Nguyên, nhưng hắn không chống nổi lại các đạo quân được gởi đến, cuối cùng bị bắt và bị giam tại Núi-Hồng, ở về phía Đông của tỉnh nầy.

Năm 1880, ông quận-công Tseng, lúc đó ở Saint Pétersbourg, trong một lời tuyên-bố đầu tiên về việc can-thiệp của Pháp tại An-Nam, đă cho giới ngoại-giao tây-phương biết rằng h́nh-thức thượng-quốc – chư-hầu giữa Trung-Hoa và An-Nam được xem như là một cách bảo-hộ (protectorat).

Sau khi hay tin Cdt. Rivière chiếm Hà-Nội, quận-công (marquis) Tseng đă viết thư vào ngày 6 tháng 5 cho ông Bộ-Trưởng bộ Ngoại-Giao là M. de Freycinet yêu-cầu Pháp rút quân, lá thư nầy không được trả lời. Nhưng sau đó, v́ lỗi lầm của đại-sứ Pháp tại Trung-Hoa lúc đó là ông M. Bourée, Tổng-Lư Nha-Môn lên giọng.

Trong một lá thư gởi Bộ-Trưởng bộ Ngoại-Giao ngày 21 tháng 11 năm 1882, ông Bourée đă đề-cập đến một cuộc tiếp-xúc với Tổng-Lư Nha-Môn, qua đó người ta đă đề-nghị giải-quyết vấn-đề bằng hai ủy-ban, một Trung-Hoa, một Pháp-Quốc; đại-diện của An-Nam có thể có mặt . “Tôi không làm cản-trở, ông Bourée thêm vào, để đón nhận một đề-nghị như vậy, tiên-khởi, không có ǵ là không thể chấp-nhận".

Ngày 5 tháng 12, trong một lá thư mới, ông Bourée nhấn-mạnh đến sức mạnh của các đạo quân Trung-Hoa đang đóng tại Bắc-Kỳ, đến các hoạt-động từ Trung-Hoa để củng-cố cho các đạo quân nầy. “Chưa bao giờ, từ khi cuộc khủng-hoảng với nước Nga, người ta chưa bao giờ trông thấy những hoạt-động chuẫn-bị cho quân sự như vậy.” Ư-nghĩ đánh Trung-Hoa chứa đầy những ấn-tượng hăi-hùng.

Ngày 20 tháng 12, ông Bourée tường-tŕnh bằng thư rằng Lư-Hồng-Chương đă đề-nghị với ông hăy để nguyên những đạo-quân Trung-Hoa tại Bắc-Kỳ ở các vị-trí mà họ đang chiếm-đóng, hay ít nhất cho họ tiến chiếm thêm một số lư đă định trước, với điều-kiện là ông Bourée gởi cho Tổng-Lư Nha-Môn một công-văn trong đó tuyên-bố rằng nước Pháp không theo đuổi trong vùng nầy một đường-hướng chính-trị chinh-phục hay một hành-vi đi ngược lại sự toàn-vẹn lănh-thổ của vua An-Nam.

Ngày 27 tháng 12, một lá thư khác của Bourée nhằm vào việc dành cho Trung-Hoa một vùng đất. Lá thư nầy c̣n tán-dương sức mạnh của quân-đội Trung-Hoa.

Ngày 29 tháng 12, ông nầy điện-tín nói rằng Tổng-Lư Nha-Môn sẵn-sàng công-nhận việc bảo-hộ của chúng ta ở tại Bắc-Kỳ, ngoại trừ một vùng đất sẽ được xác-định dành cho Trung-Hoa. Ngày 30 tháng 12, ông Duclerc, Bộ-Trưởng bộ Ngoại-Giao, trả lời bằng một giác-thư rằng ông đồng-ư về đề-nghị nầy.

Ngày 4 tháng 1 năm 1883, Đô-Đốc Jauréguiberry, Bộ-Trưởng bộ Thủy-Quân, hiểu biết nhiều về t́nh-h́nh Viễn-Đông, phản-đối chống lại việc thỏa-thuận nầy.

Ngày 11 tháng 1, ông Bourée điện-tín nhấn mạnh rằng chúng ta không nên đánh Huế mà không thông báo trước cho Trung-Hoa.

Ngày 13 tháng 1, ông Duclerc chấp-thuận đề-nghị của ông Bourée.

Ngày 15 tháng 1, ông M. Rheinhart, lănh-sự Pháp tại Huế, nhấn mạnh rằng công-việc cần được sự thảo-luận giữa Paris và Bắc-Kinh. Ông nầy đề-nghị chúng ta nhượng một phần đất cho Trung-Hoa và nhượng-bộ đ̣i hỏi về biên-giới của họ.

Ngày 26 tháng 1, Đô-Đốc Jauréguiberry, Bộ-Trưởng bộ Thủy-Quân, viết thư cho ông Duclerc để phản-đối việc dàn-xếp nầy và xin từ-chức.

Việc phản-đối nầy được lập lại bởi ông M. de Mahy, Bộ-Trưởng tạm thời bộ Hải-Quân và Thuộc-Địa.

Ngày 23 tháng 2, ông Bourée c̣n đánh điện-tín từ Thượng-Hải để nhắc chúng ta chấp-nhận việc dàn-xếp nói trên.

Nhưng điện-tín cuối cùng nầy đă đụng đến một người không chấp-nhận, cho nước Pháp, sự chi-phối của Trung-Hoa; là ông Jules Ferry đă lên nắm quyền, thay cho ông Duclerc yếu-đuối và bệnh-hoạn. Ngày 5 tháng 3, ông Challemel Lacour, Bộ-Trưởng bộ Ngoại-Giao, trả lời cho Bourée: "Việc dàn-xếp nầy dành cho phía Trung-Hoa những nhượng-địa mà các vùng đất nầy không thuộc về chúng ta để mà kư-nhận", và ông c̣n lặp-lại việc nầy trong những lá thư tiếp theo.

Ngày 7 tháng 3, Bourée trả lời: "Tôi e-ngại rằng người ta không thể cân-nhắc, ở Paris, tất cả những hậu-quả về những quyết-định mà quí ông vừa lặp-lại cho tôi".

Cùng lúc với ông Bourée, ông Rheinhart, lănh-sự tại Huế, đă bị thay thế bởi ông De Kergaradec.

Nhưng, mặc dầu với việc thay người và mặc dầu từ lúc đó chúng ta có một đường-hướng chính-trị xứng-đáng hơn cho nước Pháp, cái ư-nghĩ phân-định lại biên-giới, đáng lẽ sẽ không bao giờ được chấp-nhận, lại được đặt ra. Người ta chỉ cần lấy lại nguyên-trạng đường biên-giới đă có sẵn giữa hai nước. Chúng ta ngày hôm nay biết rằng đường biên-giới đă được xác-định rơ-rệt và người An-Nam, lúc cần-thiết, biết cách bảo-vệ biên-cương của họ. Nhưng người Hoa cho rằng các chư-hầu là một phần của đế-quốc, v́ thế không thể có biên-giới giữa các chư-hầu và nước Trung-Hoa.

Ông Bourée, mặc dầu cảm thấy ḿnh bị chống-đối nhưng vẫn tiếp-tục tiếp-tục thuyết-phục. Trong các lá thư vào ngày 16 và ngày 17, ông viết rằng ông không biết đă có từ nay trở đi trong tư-tưởng chúng ta việc tấn-công đạo-quân hùng mạnh đang bảo-vệ Bắc-Kinh. Trong điện-tín ngày 5 tháng 5 ông viết rằng 2.000 quân thiện-chiến đă rời hải-cảng Thiên-Tân để đi về một địa-điểm không biết. Điện-tín ngày 8 kể lại việc thảm-sát tại Vân-Nam linh-mục Terrasse và 14 giáo-dân. Điện-tín ngày 13 xác-nhận rằng Lư-Hồng-Chương dẫn đầu 150.000 quân chuẫn-bị tiến chiếm Bắc-Kỳ.

Mệt-mỏi bở các lá thư răng-đe nầy, ông Challemel Lacour điện-tín cho ông Tricou là công-sứ toàn-quyền Pháp tại Nhật, trọng-trách kiểm-chứng việc sửa-soạn động quân của Trung-Hoa. Ngày 16 tháng 5, ông Bourée bị triệu-hồi.

Cũng trong khoảng thời-gian nầy, ngày 19 tháng 5 năm 1883, biến-cố tại Cầu-Giấy, Cdt. Rivière bị thảm sát. Nghe được tin nầy từ Ông Thomson, đô-đốc Mayer nói đến việc rút khỏi Hà-Nội.

Nhưng thủ-tướng (Président du Conseil) Jules Ferry, không bị thất-bại nầy ảnh-hưởng, liền ra lệnh gởi quân tức-khắc đến Bắc-Kỳ. Quân đội nầy dưới sự thống-lĩnh của tướng Bouet, hiện là Tổng Tư-Lệnh quân-đội tại Nam-Kỳ và ngày 7 tháng 6 ông Harmand, lănh-sự tại Băng-Cốc, được phong làm Tổng-Ủy (Commissaire Général Civil de la République) tại Bắc-Kỳ.

Ngày 21 tháng 6, trong một cuộc tiếp xúc giữa Jules Ferry và quận-công Tseng. Ông Tseng chấp-nhận việc xem những đạo quân Hoa chống lại Pháp hiện có mặt tại Bắc-Kỳ là bọn cướp. Trung-Hoa sẽ để cho chúng ta hành-động và không coi rằng việc động-binh của chúng ta là một sự đổ-vỡ giữa hai nước. Nhưng ông nầy nhấn mạnh rằng hai bên phải tạo ra một vùng trung-lập, một quốc-gia-trái-độn (état tampon), giữa Trung-Hoa và chúng ta.

Ngày 1 tháng 7 ông Lư-Hồng-Chương cũng an-tâm nói với ông Tricou, thay ông Bourée, rằng Trung-Hoa sẽ không cản-trở sự can-thiệp của chúng ta tại Bắc-Kỳ, với điều-kiện là chúng ta tuyên-bố không chiếm xứ nầy. Challemel Lacour chấp-nhận vào ngày 3 tháng 7 và việc thương-lượng được bắt đầu trên căn-bản nầy với Lư-Hồng-Chương. Chúng ta chấp-thuận việc hội-ư với Trung-Hoa, nếu một vài thay-đổi biên-giới không thể thực-hiện được để bảo-đảm việc an-ninh của chúng ta.

Nhưng vào ngày 5 tháng 7, Tricou đánh điện từ Thượng-Hải nói rằng: “Thực-tế là Tổng-Lư Nha-Môn, Lư-Hồng-Chương và ông Tseng âm-mưu để gạt chúng ta." Ông nầy yêu-cầu chúng ta lấy lại quyền tự-do hành-động của ḿnh và nói rằng lực-lượng quân-sự của Trung-Hoa th́ được đánh-giá quá cao một cách không b́nh-thường.

Ngày 10 tháng 7, Quốc-Hội thông qua, 362 phiếu thuận và 78 phiếu chống, đường-hướng chính-trị của chính-phủ tại Trung-Hoa.

Ngày 1 tháng 8, ông Tseng, trong một cuộc gặp-gỡ, xác-nhận rằng đường biên-giới An-Nam và Trung-Hoa th́ không được phân-định rơ-ràng. Việc có mặt người Hoa tại xứ Bắc-Kỳ là tại v́ biên-giới chưa xác-định.

Tại Thượng-Hải, Lư-Hồng-Chương tuyên-bố rằng ông không có thẩm-quyền, mặc khác, Trung-Hoa chưa bao giờ công-nhận hiệp-ước 1874.

Ngày 8 tháng 8, trong một cuộc tiếp-xúc với quận-công Tseng, ông Challemel Lacour nói rằng người ta không thể dàn-cảnh thương-lượng trong lúc Trung-Hoa gởi quân đến Bắc-Kỳ. Ông Tseng thú-nhận việc nầy.

Ngày 9, bản tuyên-bố cấm-vận Trung-Hoa được gởi đến Tricou và các cường-quốc. Tuyên-bố nầy được công-bố vào ngày 10 tại Paris trước quận-công Tseng.

Ngày 18, Trung-Hoa trả lời qua ông Tseng: chúng ta phải rút quân ở Bắc-Kỳ và cam-kết không trở lại. Trung-Hoa sẽ vạch đường biên-giới của họ ở tại Thoun-Ho-Kouan (trên sông Hồng, ở gần Sơn-Tây; ltg: Thương-Hồ-Quan ?) và hàng-hóa từ Vân-Nam sẽ được trao đổi tại điểm nầy.

Ngày 27 tháng 8, ông Challemel Lacour từ-chối không nghiên-cứu những đề-nghị nầy.

Ngày 29, sự cứng-rắn của Tricou dường như bị lung-lay. Ông này quan-tâm đến vũ-khí mà Trung-Hoa đă gởi đến Bắc-Kỳ.

Ngày 30, trong thư trả lời về việc cấm-vận, Trung-Hoa xác-nhận quyền thượng-quốc của họ tại An-Nam. Họ sẽ mở một cuộc điều-tra và sẽ nghiên-cứu lại.

Trong lúc hai bên Pháp và Trung-Hoa theo đuổi việc thương-thuyết, quân của ta ở Bắc-Kỳ đă hành-động. Thuyết-phục rằng chúng ta chỉ có thể kết-thúc những âm-mưu nầy ở tại Huế. Hạm-đội tại đây chiếm thành Thuận-An ngày 20 tháng 8, sau đó tiến về kinh-đô ngày 23 tháng 8 và ra một tối-hậu-thư. Triều-đ́nh chấp-thuận tất-cả những điều bắt buộc và ngày 25 tháng 8, một hiệp-ước được kư-kết, một bên do các vị đại-diện nước Pháp, một bên là Trân-Đ́nh-Tuệ, Nguyễn-Trọng-Hiệp đại diện triều-đ́nh An-Nam.

Qua điều 1, An-Nam chấp nhận sự bảo-hộ của nước Pháp với tất-cả những hậu-quả do việc nầy đem lại, kể cả việc đối với Trung-Hoa, do vậy chấm dứt luôn việc tùy-thuộc vào thiên-triều.

Ngược lại, điều thứ 15 có nội-dung như sau: Nước Pháp cam-kết từ đây về sau bảo-đảm sự toàn-vẹn lănh-thổ của Hoàng-Đế An-Nam, bảo-vệ nước nầy chống lại mọi sự gây hấn ở phía ngoài cũng như chống lại mọi việc phản-loạn ở bên trong, yễm-trợ những đ̣i hỏi chính-đáng của nước nầy với các nước khác.

Dựa trên điều nầy, được kư-kết ngày 6 tháng 6 năm 1884, chúng ta không có quyền tự-tiện lấy một phần đất của nước nầy để nhượng cho một cường-quốc khác, kể cả nước Trung-Hoa.

Dầu vậy, Trung-Hoa vẫn tiếp-tục nhằm cố chiếm một phần đất của An-Nam

Ngày 15 tháng 9, nước nầy đề-nghị việc xác-định đường biên-giới bằng một đường bắt đầu từ Lào-Cay chạy ra biển ở khoảng giữa vĩ-tuyến thứ 21 và 22.

Ngày 18, trong một cuộc tiếp-xúc với Jules Ferry, ông Tseng c̣n nhấn-mạnh về việc xác-định một đường biên-giới thuận-lợi. Ông nầy muốn rằng Trung-Hoa tự ḿnh sẽ vạch đường biên-giới đó.

Ngày 26, ông Tricou cảnh-báo rằng Trung-Hoa muốn rằng Bắc-Kỳ được chia ra làm hai vùng. Ông nói thêm rằng họ vẫn tiếp tục lừa-gạt chúng ta.

Trong một cuộc tiếp-xúc khác, ông Tseng nói rằng vùng đất mà Trung-Hoa muốn, có biên-giới ở tỉnh Quảng-B́nh. Như vậy là họ muốn lấy toàn bộ đất cũ của An-Nam trước khi chinh-phục nước Chàm.

Trong lá thư ngày 15 tháng 10 gởi Challemel Lacour, ông Tseng viết rằng: "Nước Trung-Hoa rất tiếc đă phải dẩm lên đất của nước chư-hầu mà họ đă tôn-trọng từ hai thế-kỷ nay (chắc-chắn ám-chỉ hiệp-ước 1728)". Ông nầy yêu-cầu, trong trường-hợp đau-đớn cần-thiết phải xâm-phạm đường biên-giới để thiết-lập một vùng trung-lập bắt đầu từ Quảng-B́nh, cửa khẩu trao-đổi hàng-hóa ở trên sông Hồng được giữ tại Thoun-Ho-Kouan (Sơn-Tây).

Trong bản tường-tŕnh về t́nh-trạng của tháng 10 năm 1883, trang 17, ông Jules Ferry biểu-lộ như sau: "Chúng ta không gạt bỏ ư-nghĩ về việc nghiên-cứu chung với Trung-Hoa, nếu một vài thay-đổi đường biên-giới không thể chấp-nhận".

Như vậy người ta đă coi rẽ điều thứ 15 hiệp-ước đă kư với An-Nam. Ông Tricou, trong một lá thư 30 tháng 9, cho thấy đồng-ư về những sửa đổi biên-giới.

V́ vậy, trong một giác-thư thảo ngày 15 tháng 9 năm 1883, trao lại lănh-sự Trung-Hoa tại Pháp ngày 27, bộ Ngoại-Giao viết như sau: "Chính-Phủ Pháp cam-kết không chiếm một vị-trí nào thuộc biên-giới và không làm một công-tác nào trong một vùng xác định phía Bắc là biên-giới Trung-Hoa và phía Nam là một đường bắt đầu từ một điểm ngoài bờ biển ở khoảng giữa hai vĩ-tuyến thứ 21 và 22, chạy ngang cho đến sông Hồng, ở thượng-lưu Lào-Kay. Trung-Hoa cũng phải cam-kết tương-tự là không chiếm một vị-trí nào cũng như không làm một công-tác nào trong vùng nầy."

Đây là việc bỏ vùng thượng Bắc-Kỳ cho quân cướp Tàu mà Trung-Hoa lên án bọn nầy vào lúc thấy có lợi và giúp-đỡ chúng nếu thấy cần-thiết. Đó là gián-tiếp chấp-nhận việc bỏ một phần lănh-thổ của An-Nam.

Việc thương-lượng lại nhường chỗ cho hành-động quân-sự. Các thành-phố ở vùng đồng-bằng lần-lượt được chiếm lại. Tướng Négrier lên Lạng-Sơn, tại đây xăy ra một biến-cố (ltg: Tướng Négrier bị thương nặng trong trận Lạng-Sơn, lúc quân Tàu tiến quân sang. Quân Pháp phải rút về cố thủ ở làng Chu và Kép) đem đến việc sụp-đổ chính-phủ (chú-thích của người viết: tức chính-phủ Jules Ferry). Chúng ta tiếp-tục ghi-nhận qua các thương-lượng ngoại-giao với Trung-Hoa những ǵ liên-quan đến vấn-đề biên-giới và nhận thấy rằng trước hết, hành-động quân-sự của chúng ta ở Bắc-Kỳ , và mặc khác là hiệu-quả của hạm-đội do đô-đốc Courbet chỉ-huy, đă làm sự đ̣i hỏi của Trung-Hoa giảm xuống một cách lạ lùng.

Công-ước sơ-bộ hữu-nghị kư giữa hải-quân trung-tá Fournier với Lư-Hồng-Chương (11 tháng 5 năm 1884):

"Điều thứ 1: Nước Pháp cam-kết tôn-trọng và bảo-vệ chống lại mọi sự xâm-lấn của bất kỳ một nước nào trong bất-kỳ trường-hợp nào, vào vùng biên-giới Hoa-Nam, tiếp-cận với Bắc-Kỳ.

"Điều thứ 2: Trung-Hoa, được an-tâm qua những bảo-đảm chắc-chắn của nước Pháp bằng t́nh hữu-nghị về vùng biên-giới Hoa-Nam, cam-kết rút quân tức-khắc ra khỏi biên-giới những đạo quân đóng tại Bắc-Kỳ, và tôn-trọng, hiện-tại cũng như trong tương-lai, những hiệp-ước kư, hay sẽ kư, với triều-đ́nh An-Nam".

Những vị-trí thuộc vùng biên-giới Lưỡng-Quảng phải rút đi vào 6 tháng 6 và thuộc vùng Vân-Nam vào ngày 26. Điều-khoản nầy đă không được tuân-thủ.

Bởi v́, ngày 8 tháng 11 năm 1884, Lư-Hồng-Chương đề-nghị rằng: “Các đạo quân Trung-Hoa đang tạm-thời đóng tại Lào-Cay và Lạng-Sơn, sẽ để trống những vị-trí khác sẽ được các đạo quân Pháp chiếm giữ trong một khoảng thời-gian được xác-định sau.

Khi nào hiệp-ước chung-cuộc được kư-kết, các đạo-quân của Trung-Hoa sẽ rút hoàn-toàn ra khỏi Bắc-Kỳ". Tuy-nhiên, lệnh triệt-thoái đă được triều-đ́nh ban dụ ngày 13 tháng 4.

Hiệp-ước chung-cuộc bị kéo dài. Cuối cùng nó được kư-kết tại Thiên-Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 giữa Lư-Hồng-Chương và ông Patenôtre, được các viện thông-qua ngày 20 tháng 11 năm 1885.

Theo đây là nội-dung của điều 3 của hiệp-ước: “Trong một thời-gian là 6 tháng bắt đầu từ ngày hiệp-ước được kư-kết, các ủy-viên của hai bên được chỉ-định đi đến thực-địa để t́m hiểu biên-giới giữa Trung-Hoa và Bắc-Kỳ. Các ủy-viên nầy sẽ cắm mốc ở mọi nơi thấy cần-thiết, những cột mốc để làm rơ-rệt đường biên-giới. Trong trường-hợp hai bên không đồng-ư về vị-trí của các cột mốc, hay về việc sửa đổi các chi-tiết có thể sẽ xăy ra trên đường biên-giới hiện nay của Bắc-Kỳ, v́ quyền-lợi chung của hai bên, việc nầy các ủy-viên phải đệ-tŕnh lên hai chính-phủ của họ".

Như vậy là nguyên-tắc được đặt ra, phía Trung-Hoa đă kéo chúng ta vào việc phân-định một đường biên-giới mà họ đă biết rành. Nhưng họ lại cho rằng họ không biết ǵ về đường biên-giới nầy, hoặc đặt đường biên-giới về phía Nam của đường biên thực-sự. Chỉ một vấn-đề sau đây có thể phán-đoán được thiện-chí của họ, chúng ta sẽ thấy họ không những đă gian-lận, mà c̣n giết người để cản-trở công-việc, hay để dành cho họ những vùng đất nguyên-thủy thuộc về Bắc-Kỳ.

III Công-tác phân-định biên-giới. Trường-hợp đặc-biệt biên-giới giữa Vân-Nam và Tuyên-Quang.

Mặc dầu đă có lệnh của triều-đ́nh Măn-Thanh phải rút quân đang chiếm đóng ở Bắc-Kỳ, nhưng nhiều đạo-quân của hoàng-gia hay là quân cướp vẫn không rút đi. Bọn quân cướp chỉ được đuổi đi khoảng 10 năm sau, 1896, sau các cuộc hành-quân của quân-đội với sự trợ-giúp nồng-nhiệt của dân địa-phương mà quân cướp bóc-lột họ từ bấy lâu nay. T́nh-trạng nầy phần lớn là do những quan-lại nhà Thanh trấn-thủ ở các vùng tiếp-cận biên-giới, và rất có thể họ được sự khuyến-khích của triều-đ́nh.

Do đó, trong xứ mà chúng ta kiểm-soát, ông tổng-đốc Vân-Nam đă ra lệnh cắm cột mốc dành toàn-bộ tổng Tụ-Long, các xă Phân-Vũ và B́nh-Di (ltg: B́nh-Ri, tức Bắc-Bảo thuộc Tàu hiện nay) thuộc tổng Phương-Độ. Nghiên-cứu hồ-sơ của vùng 3 quân-sự, chúng ta nhận thấy rằng, vào các năm 1886-1887 (cttg: có thể in sai, chắc là 1896-1897, v́ từ các năm 1886-1887, các mốc biên-giới chưa được cắm và các vùng quân-sự chưa được thành-lập. Riêng vùng biên-giới Vân-Nam đă chỉ kết-thúc sau năm 1897 với công-tŕnh của đại-tá Galliéni), các viên chỉ-huy vùng nầy phản-đối luôn luôn v́ các cột mốc thường-xuyên bị dời về phía Nam. Chúng tôi cũng gặp y t́nh-trạng, vào năm 1911, một trong các cột mốc cắm trên đường từ Hà-Giang đến Thanh-Thủy, đồn biên-giới hiện nay, đă bị dời đi khoảng 1 cây số về phía Nam của đồn nầy. Và cứ như vậy ở rất nhiều điểm trên đường biên-giới.

Các ủy-viên Trung-Hoa đă được chỉ định, phần biên-giới Vân-Nam là ông Tcheou, vùng biên-giới Lưỡng-Quảng là ông Tseng-tcheng-Sieou. Ủy-viên Pháp là ông Bourcier de St Chaffray. Các ủy-viên trên được nhiều thông-dịnh-viên, trắc-địa-viên v.v.. trợ-giúp.

Các ủy-viên Trung-Hoa không thực ḷng làm việc. Chính-phủ trung-ương đă phải can-thiệp hai lần, ra lệnh buộc ông Tseng phải bắt đầu xúc-tiến công-việc (tháng 8 năm 1885).

Cuộc họp thứ nhất được diễn ra tại Đồng-Đăng vào ngày 2 tháng 1 năm 1886 và xúc tiến công-việc trên thực-địa vào ngày 20 tháng 3, nhưng v́ bị ủy-ban Trung-Hoa cản-trở, công-việc bị ngưng lại vào ngày 13 tháng 4.

Trên biên-giới Vân-Nam, buổi họp thứ nhứt diễn ra vào ngày 23 tháng 7 năm 1886. Ủy-ban Pháp do ông Dillon cầm đầu, thay thế ông St Chaffray bị bệnh. Tân ủy-ban Pháp đă ghi-nhận những ǵ đă xăy ra ghi trên, và nhất là quân-đội Trung-Hoa đă chiếm-đóng Hà-Giang, trên sông Thanh-Thủy (ltg: sông Lô, rivière Claire). Phía bên Trung-Hoa lại gây khó-khăn, nhưng trước sự bền-chí của ủy-ban Pháp, cuối cùng họ đồng-ư hai bên bắt đầu công-việc, trước hết là phần về phía Nam của sông Hồng.

V́ thế phải đi ngược lên Lũng-Pô. Ủy-ban Trung-Hoa từ-chối đi chung với ủy-ban Pháp, và viện lư-do thông-báo cho các đồn biên-giới, họ đi trước chúng ta một ngày. Các sĩ-quan trắc-địa, các trung-úy Geil và Henri, cùng lên đường với một toán lính hộ-vệ. Bờ sông phía Bắc-Kỳ th́ hoang-vắng, phía bờ Trung-Hoa th́ bị cấm, họ không được ngủ ở đây, kể cả việc đi xuống các nơi cao, rất cần-thiết để tránh các ghềnh-thác. Và một trong những điểm đó các ủy-viên của ta đă bị quân Tàu phục-kích. Chúng ẩn-nấp ở ngay bên bờ của Bắc-Kỳ, giết chết hai viên sĩ-quan cùng với những cận-vệ của họ (kể cả lính Lê-Dương – Légion Etrangère). Một viên lính-kèn (clairon) tây-phương, thoát thân bằng cách bơi về một trong các chiếc thuyền kết-cận. Chiếc thuyền nầy chở lính tập Bắc-Kỳ, họ bắn trả-đũa lại quân đột-kích, nhưng họ bị thủy-thủ đoàn người Hoa bỏ rơi, phải rút về bằng cách thả trôi theo ḍng nước. Sông mùa nước lớn, họ về Lào-Kay nhanh-chóng và kể lại sự việc đă xăy ra.

Đến phiên ủy-ban Trung-Hoa trở về, dựa vào biến-cố mà chính họ chủ-mưu, tuyên-bố rằng nước Pháp không bảo-đảm được an-ninh trên biên-giới, v́ vậy việc phân-định sẽ được thực-hiện trên bản-đồ. Ủy-ban Pháp chưa hết đau buồn do biến-cố vừa qua, đă phải chấp-thuận.

Vụ sát-nhân nầy không phải chỉ có một. Trong lúc ủy-ban làm việc tại Lào-Kay, ông Tseng đă đến biên-giới Quảng-Đông. Mặc dầu có sự phản-đối của tướng Jamont, chỉ-huy trưởng quân-đội và ông Dillon, chủ-tịch ủy-ban, ông Công-Sứ Toàn-Quyền Paul Bert nghe theo lời yêu-cầu của ông Constans lúc đó là đại-sứ tại Trung-Hoa, đă gởi đến Móng-Cáy ông Haitce là thông-dịch-viên hoa-ngữ và trung-úy Bohin. Ông Haitce v́ quá tự-tin, từ-chối nghỉ đêm trong thành. Ông đă tiếp-đón viên tuần-phủ Trung-Hoa tại nhà và được yên-tâm, ông đă bỏ qua các ư-kiến của linh-mục Grandpierre, nhà truyền-giáo tại Quảng-Đông. Linh-mục nầy đă thông-báo về các việc chuẫn-bị giết người của người Hoa. Trong đêm 25 rạng 26, nhà ông Haitce bị tấn-công. Ông nầy chống-cự lại cùng với các lính cận vệ, nhưng họ không có đủ lương-thực. Sáng ngày 27, ông t́m cách chạy trốn, lấy đường qua sông. Ông bị bắt dẫn về phố. Dân Trung-Hoa, trong đó có nhiều quân-đội, phanh thây ông để làm vui. Gan của ông bị dầm vào rượu và bị ăn sống bởi bọn dă-man nầy. Cùng lúc đó ủy-viên người Hoa là ông Wang, b́nh-yên ở Đông-Hưng, ở bờ phía Tàu. Trung-úy Bohin, người đă lấy đồ-h́nh ở Tong-Son, cũng bị tấn-công. Ông đă được linh-mục Grandpierre cứu nạn.

Và như vậy người Pháp đảm-nhận việc phân-giới đă được đón tiếp. Các biến-cố nầy đă xăy ra mà dư-luận ở nước Pháp không hay biết. Miền Bắc-Kỳ rất không được ḷng dân, v́ thế không nên gây sự chú-ư, v́ có thể sẽ gây dư-luận thù-ghét chống lại quan Công-Sứ Toàn-Quyền và Đại-Sứ Pháp tại Bắc-Kinh (ltg: tức là các ông Paul Bert và Constans).

Và như chúng tôi đă viết, vùng biên-giới Vân-Nam đă được phân-định trên bản-đồ, và nó được phân làm 5 tiểu-đoạn. Đoạn thứ 1 bắt đầu từ hợp-lưu của sông Lũng-Pô với sông Hồng cho đến Mường-Khương. Đoạn thứ 2 từ Mường-Khương đến Cau-Ma-Bac. Đoạn thứ 3 từ Cau-Ma-Bac cho đến Pou-Mei-Ho (ltg: tức sông Nho-Quế). Đoạn thứ 4 từ sông Nho-Quế đến giới điểm tỉnh Quảng-Tây. Đoạn thứ năm từ hợp-lưu sông Lũng-Pô với sông Hồng cho đến biên-giới Lào.

Các đoạn 1, 3 và 4 được phân-định không gặp khó-khăn nhưng không có sự đồng-thuận ở đoạn 2 (từ Mường-Khương đến Cau-Ma-Bac, tức vùng thuộc các tổng Tụ-Long và Phương-Độ) và vùng 5 từ Lũng-Pô đến biên-giới Lào. Ủy-ban Pháp không thể kư nhận mất hơn 9 xă ở đoạn 2 và một vùng rất lớn trong đoạn 5.

Các kết-quả nầy đă được kư-thác trong một biên-bản cuối cùng, kư ngày 19 tháng 10 năm 1886, đă dành cho chính-phủ hai nước giải-quyết các điểm tranh-chấp và chỉ-định các ủy-ban mới để phân-giới cắm mốc cho thích-nghi với điều 3 của hiệp-ước Thiên-Tân.

Các việc lấn đất nầy của Trung-Hoa dầu vậy xăy ra không phải là không ai biết, ở Bắc-Kinh cũng như ở Paris. Một bản tường-tŕnh của dân-biểu Dureau de Vaulcompte, ông nầy là phát ngôn-viên của ủy-ban nghiên-cứu Công-Ước về thương-măi kư ngày 26 tháng 6 năm 1887, đă phát-biểu như sau:

“Các ủy-ban Trung-Hoa - chỉ gắn-bó với điều-khoản sửa-đổi các chi-tiết có thể có trên biên-giới Bắc-Kỳ - có ư muốn thiết-lập một đường biên-giới mới.

Ủy-ban Pháp, cho rằng các ủy-ban hữu-trách chỉ có bổn-phận áp-dụng chứ không nhằm xét lại hiệp-ước, mong muốn rằng đường biên-giới lịch-sử và hiện nay được công-nhận qua việc phân-giới".

Nhưng các nhà ngoại-giao của chúng ta ở Bắc-Kinh, một phần không đồng-ư với việc can-thiệp của chúng ta tại Bắc-Kỳ, đă bán rẻ hiệp-ước bảo-đảm sự toàn-vẹn lănh-thổ của An-Nam và các quyền-lợi của nước Pháp.

Công-ước 26 tháng 6 năm 1887 đă nhượng cho Trung-Hoa phần đất thuộc An-Nam tại mũi Bạch-Long (dân chúng tại đây là người An-Nam) và một trong các vùng: thung-lũng sông Thanh-Thủy (rivière Claire) hoặc hữu-ngạn sông Hồng.

Và sau đây là công-ước về biên-giới mà chúng ta đang bàn-luận: Từ Keou-teou-tchau (?) (ltg: Cẩu-Đầu-Trại) ở phía tả-ngạn của sông Siao-tou-tcheou-ho (sông Tiểu-Đổ-Chú Hà) (1), đường biên-giới đi trực-tiếp từ Tây sang Đông khoảng 50 lư (20 km) để lại phía Trung-Hoa các vùng Tsui-Kiang-cho hay Tsui-y-cho (Tụ-Nghĩa-xă), Tsui-mei-cho (Tụ-Mỹ-xă), Kiang-fei-cho hay Y-fei-cho (Nghĩa-Phi-xă), các vùng nầy ở về phía Bắc của đường biên et để cho An-Nam, Yeou-p’ong-cho (?), ở về phía Nam của đường biên cho đến các điểm ghi là P và Q trên bản-đồ đính kèm, tại nơi đường biên cắt hai nhánh của phụ-lưu hữu-ngạn thứ hai (2) của sông Hắc-Hà hay sông Đổ-Chú, bắt đầu từ điểm Q, đường biên nghiêng về hướng Đông-Nam vào khoảng 15 lư (6 km), cho đến điểm R, để lại phía Trung-Hoa vùng đất Nam-Tan (Nam-Dang, là vùng mỏ ch́ pha bạc) ở về phía Bắc điểm nầy, sau đó, từ điểm R nói trên, đường biên hướng về phía Đông-Bắc cho đến điểm S theo y như hướng đă vẽ trên địa-đồ R-S, con sông Nam-seng-ho (Nam-Seng nước trong) (2) và vùng Man-Mei, Mường-Tung thượng-thôn, Mường-Tung sơn, Mường-Tung trung-thôn và Mường-Tung hạ-thôn th́ thuộc về An-Nam.

Từ điểm S (Mường-Tung hạ-thôn), đường biên-giới ở điểm giữa của sông Thanh-Thủy cho tới hợp-lưu của nó là điểm T với sông Rivière Claire (hiện nay là đồn Thanh-Thủy).

Từ điểm T, đường biên-giới là đường trung-tuyến của sông Claire cho tới điểm X, ở khoảng Tch’ouan-teou (?)

Từ điểm X, đường biên đi về hướng Bắc cho đến điểm Y sau khi xuyên qua Pai-Che-Yai (?) và Lao-Ai-K’au (?), phân nửa của hai vùng trên đây thuộc về Trung-Hoa và An-Nam. Phần ở phía Đông th́ thuộc An-Nam, phần ở về hướng Tây th́ thuộc về Trung-Hoa. (3)

Bắt đầu từ điểm Y, đường biên-giới đi về hướng Bắc, chạy dọc theo nhánh sông hữu-ngạn của phụ-lưu nhỏ, phía tả ngạn của sông Lô, mà nhánh sông nầy nhận ở khoảng giữa Pien-pao-kia (?) và Pei-pao (Bắc-Bảo), và đi đến sau đó Kao-ma-pai (Cao-Ma-Bach) là điểm Z, tại đây đường biên sẽ nối với đồ-tuyến của đoạn thứ 3.

Chúng ta chỉ cần đưa mắt nh́n trên các đồ-tuyến để thấy rằng việc phân-định nầy đă lấy mất của chúng ta các quặng mỏ mà chúng đă là nguyên-nhân của việc tranh-chấp giữa Trung-Hoa và An-Nam ngày xưa. Mặc-dầu cuộc phân-định nầy phần thuận-lợi nghiêng hẵn về phía chúng ta, hơn là cuộc phân-định 1897 (ghi chú tg: có lẽ có một lầm-lẫn ở đây, có thể là năm 1697, là năm mà các sứ-thần của ta sang Tàu để xin triều-đ́nh nhà Thanh xét lại việc các thổ-ti ở phủ Khai-Hóa chiếm đất. Nhưng việc nầy đă không thành).

Chúng ta thấy ở trên đây đường biên-giới đă để cho Trung-Hoa các xă Tụ-Nghĩa, Tụ-Mỹ và nghĩa-Phi, mà xă sau cùng th́ ở rất sâu ở phía Nam, gần Vĩnh-Tuy hơn là Bắc-Quang. Việc nầy cho ta thấy sự cẩu-thả của việc phân-định.

Ngày 30 tháng 7 năm 1887, tướng Munier, chỉ-huy trưởng quân-đội, đă báo-động việc sai lầm lố-bịch nầy cho quan toàn-quyền Bihourd, và sau đó với ḷng hối-tiếc v́ đă để mất vùng Tụ-Long, ông xin lệnh chiếm giữ xă Yên-B́nh ở về phía Tây-Bắc xă Nghĩa-Phi. Lệnh được ra ngày bằng thư ngày 13 tháng 8, đồn Yên-B́nh v́ vậy đă được thành-lập và được báo lên cho bộ Ngoại-Giao.

Hành-động của phía Trung-Hoa không phải là không có chủ-ư. Chính họ đă cố-t́nh lường-gạt chúng ta trong việc phân-định biên-giới. Thật vậy, năm 1886, ông Tôn-Thất-Thuyết, là nhân-vật chủ-mưu vụ Huế, đang ở Vân-Nam xin về Bắc-Kỳ. Quân người Hoa đang chiếm đóng ở Tụ-Long và Hà-Giang, ra lệnh cho dân-chúng tại đây đi đón đại-diện của vua Hàm-Nghi tại biên-giới, tức là biên-giới lịch-sử, ở bên bờ sông Đổ-Chú, ở gần các bia đá 1728.

Năm 1893, ông Tôn-Thất-Thuyết đang ở tại Quảng-Tây biết được quân Hoa đang chiếm-đóng Tụ-Long. Ông nầy có dưới tay vài nhóm quân Tàu và An-Nam quấy-phá chống lại chúng ta ở vùng thượng Bắc-Kỳ, đă ra lệnh cho một đầu-lĩnh là Hoàng-Thang-Lợi đuổi quân triều-đ́nh Trung-Hoa đang đóng tại Tụ-Long để trở về đây trị-v́ dưới danh-nghĩa của vua Hàm-Nghi.

Quân Hoa được đuổi đi, nhưng song song đó họ yêu-cầu theo đường ngoại-giao, quân Pháp lên đóng ở tại phần đất thuộc tổng Tụ-Long và vùng thuộc Mường-Tung (thuộc Phân-Vũ), mà công-ước 1887 dành cho chúng ta. Việc nầy được thực-hiện, xă Tụ-Nhân được chiếm lại cũng như các vùng đất khác. Nhưng chúng ta đă không quyết-đoán để đặt một đồn tại Mường-Tung mà người đầu-lĩnh người Mèo tại đây là Hang-tse đă công-nhận chính-quyền của chúng ta (tháng 7, 8 năm 1894). Các đồn ở Hoàng-Thu-B́ và Xin-Man đă được dựng lên.

Ngày 20 tháng 6 1895, một công-ước bổ-tức được kư-kết giữa ông Auguste Gérard và các ông King và Sui-Song-Y. Công-ước nầy c̣n làm chúng ta mất thêm một phần đất, đó là một phần lớn vùng Phân-Vũ, gọi là các xă Mường-Tung.

Đường biên-giới được xác-định lại như sau:

1. Bắt đầu từ điểm R, đường biên-giới đi về hướng Đông-Bắc cho tới Man-Mei; sau đó từ Man-Mei theo hướng Tây-Đông cho tới Nam-Na, để l?i cho An-Nam Man-Mei và Mường-Tung thượng-thôn. Mường-Tung Sơn, Mường-Tung trung-thôn, Mường-Tung hạ-thôn để lại cho Trung-Hoa.

"Các nhân-viên, ủy-viên hay những người có thẩm-quyền được chỉ định bởi hai chính-phủ sẽ được nhận trọng-trách việc phân-giới, làm đúng theo đồ-tuyến vẽ trên các bản-đồ có chữ kư của hai bên.

"Công-ước nầy cùng với công-ước 26 tháng 6 năm 1887, sẽ được thông-qua ngay bây giờ bởi Hoàng-Đế Trung-Hoa."

Nguyên-nhân nào đưa đến việc mất đất mới nầy ? Người ta cho rằng viên Thổ-ti người Mèo Hang-tse chiếm được vùng nầy vào năm 1863 sau khi đuổi được lớp dân Tày. Viên thổ-ti nầy đă xin sát-nhập vùng đất nầy vào lănh-thổ Trung-Hoa, v́ lư-do phía chính-quyền Pháp đă yêu-cầu ông cung-cấp phu-dịch và nhất là đánh thuế trên việc khai-thác gỗ làm ḥm xuất-cảng sang Tàu. Viên thổ-ti sợ rằng một chính-quyền hợp-pháp sẽ chấm-dứt việc buôn-bán trái phép nầy.

Phải tin rằng Hang-tse đă đổi ư từ năm 1903; chúng ta đă thấy tại Hà-Giang trong khoảng thời gian đó, lúc mà chúng tôi là phụ-tá chỉ-huy trưởng vùng 3 quân-sự, Hang-tse muốn rằng lănh-thổ của hắn được sát nhập vào An-Nam và thúc-hối chúng ta gởi quân lên để mở đồn và chiếm-lĩnh vùng nầy.

Ông Barthelot, Bộ-Trưởng bộ Ngoại-Giao, đệ-tŕnh một dự-thảo công-ước lên lưỡng viện, có nói rằng việc sửa-đổi này đă làm rồi bởi v́ vào năm 1887, với những hiểu-biết mù-mờ mà chúng ta có, việc nầy đă cản-trở việc thiết-lập một bản báo-cáo phản-ảnh đúng với t́nh-trạng địa-h́nh của một vài địa-phương ở vùng biên-giới...

Chiếu theo điều V của công-ước nầy, một ủy-ban được chỉ-định vào cuối năm 1896 để phân-giới và cắm mốc. Ủy-ban nầy do đại-tá Pennequin làm chủ-tịch và có các phụ-tá là những sĩ-quan chỉ-huy trưởng các khu (cercle) thuộc vùng biên-giới. Viên chỉ-huy trưởng khu biên-giới liên-hệ là Commandant D., được biết nhiều trong quân-đội qua chiều dài bộ râu mép của ông hơn là khả-năng quân-sự hay hành-chánh. Thông-dịch-viên là ông M. Ông nầy chỉ biết tiếng Hoa "kouan-houa" (ltg: quan-hỏa ?), v́ thế chỉ có thể thông-dịch những ǵ mà ông nghe được trong âm-ngữ nầy và hoàn-toàn xa lạ với tiếng Hoa địa-phương, là dân Tày đang sinh-sống. Cuối cùng đại-tá Pennequin, chỉ mới đến địa-phương nầy lần đầu, đă tin-tưởng hoàn toàn vào một thanh-niên ở châu Thúy-Vi, mà theo dân chúng trong vùng, đă bị Tàu mua-chuộc (4). Những người nầy ngăn-cản hoàn-toàn ông đại-tá với tất-cả những nhân-sĩ trong vùng, ngoại trừ hai người mà họ đă biết rơ. Viên thổ-ti địa-phương, dân-chúng trong vùng c̣n thuộc về An-Nam, là những người có thể cho những thông-tin trái ngược với gia-thuyết của Trung-Hoa, th́ không bao giờ được tham-khảo ư-kiến (5).

Trong những điều-kiện như vậy, th́ đă rất dễ-dàng cho phía người Hoa để chứng-minh cho ủy-ban Pháp rằng khúc trên của con sông Chảy là sông Đổ-Chú. Trong tổng Tụ-Long, người ta lấy thêm của chúng ta phần c̣n lại của Tụ-Mỹ, Tụ-Long, chỉ để lại cho chúng ta Tụ-Hoa, một dải đất không có đường vào, ngoại trừ từ phía Trung-Hoa. Việc nầy c̣n cho thấy giá-trị của các kết-quả địa-h́nh vùng đó.

Riêng về vùng Phân-Vũ (hay Mường-Tung), phần ở phía dưới của đồ-tuyến công-ước Gérard, đă bị nhượng cho Trung-Hoa. Nên biết thẩm-quyền của đầu-lĩnh Hang-Tse trải dài trên vùng núi của tổng Phương-Độ. Người ta rêu rao đặc-ân đă dành cho người Pháp, bằng cách để lại cho họ phần đất, đương-nhiên, ở phía Nam của đồ-tuyến Gérard. Viên đại-tá lỗi-lạc Pennequin, ân-hận v́ đă làm tổn-thương đến đầu-lĩnh Hang-Tse, đă viết thư yêu-cầu chỉ-huy vùng III quân-sự đừng cấm-cản việc buôn-bán trái phép của viên đầu-lĩnh Mèo cũng như đừng can-thiệp vào quyền-lực của ông này, mặc dầu đây là vùng thuộc kiểm-soát của Pháp (6). Đại-tá đă c̣n đền-bồi thiệt-hại thêm cho Trung-Hoa thôn Tiền-Phong, rất rộng lớn (7), ở bên bờ tả-ngạn của sông Nho-Quế. Chúng ta chỉ c̣n giữ lại một chóp núi của thôn nầy mà trên đó chúng ta có xây một đồn biên-giới, có tên gọi, theo tiếng Hoa Chang-Poung (Thượng-Bồng) và đồn của người Hoa giữ tên Việt: Tiền-Phong.

Việc phân-định của Pennequin cho chúng ta toàn thung-lũng sông Thanh-Thủy cho tới cḥm núi cao phía Bắc bao phủ, nhưng, việc nầy cũng lấy của chúng ta phần đất tả-ngạn sông Claire (thuộc vùng B́nh-Di), mà theo công-ước 1887 th́ của chúng ta. Đồn biên-giới Lũng-Than của chúng ta xây lên, cũng do chúng ta giật sập bằng chất nổ (để nhường cho Tàu).

Và ngày 19 tháng 6 năm 1897, Công-Sứ Toàn-Quyên, ông Gérard tuyên-bố sự kết-thúc của việc phân-giới và khen-ngợi kết-quả nầy: "Nhờ việc phân-định chính-xác các vùng thuộc Trung-Hoa và An-Nam, triều-đ́nh Trung-Hoa đồng-ư giữ các mối giao-hảo láng-giềng, hữu-nghị và thương-măi với chúng ta tại Đông-Dương".

Nhưng chắc-chắn những người An-Nam, suốt ḍng lịch-sử, đă biết cách bảo-vệ hữu-hiệu lănh-thổ của họ trước người láng-giềng hung-hăng bành-trướng. Mặc dầu chịu sự bảo-hộ nhưng họ không hài-ḷng khi giao cho chúng ta việc coi sóc những quyền-lợi của họ. Như vậy, việc chúng tôi tŕnh-bầy trong bài biên-khảo nầy, là môt câu hỏi: chúng ta có quyền hay không, sau khi đă kư kết hiệp-ước với An-Nam bảo đảm sự toàn-vẹn lănh-thổ của nước nầy, lại lấy những vùng đất ở đây để làm quà tặng cho nước Trung-Hoa ? Không phải chỉ như thế ở Tụ-Long và ở Phương-Độ, mà nó xăy ra trên khắp đường biên-giới. Những ủy-viên của ta ở địa-phương phản-đối, nhưng bộ-trưởng (ltg: tức ông Constans) của ta ở Bắc-Kinh luôn luôn đồng-ư ở mọi nơi và tất-cả những đ̣i hỏi của người Hoa mà không đưa ra một giải-thích nào. Các việc nầy cho phép chúng tôi viết rằng, và chúng tôi sẵn-sàng trưng bằng-chứng, là một số nhân-viên ngoại-giao của ta ở Trung-Hoa phàn-nàn về sự can-thiệp của chúng ta trong vấn-đề An-Nam, một thuộc-địa nghèo-nàn của một đại-cường quốc mà các nhân-viên nầy tiếp-cận để vinh-dự đại-diện cho nước Pháp. Các nguyên-nhân tâm-lư của phương-cách nh́n vấn-đề như vậy th́ không khó-khăn để t́m hiểu. Những nhà ngoại-giao chuyên-nghiệp không thích những người dẫm lên những đổ-vỡ của họ. Họ cũng là con người. Cuối cùng trong cuộc tranh-biện họ ngả về phía những người mà họ tín-nhiệm. Tuy nhiên, sẽ không đúng nếu chúng ta vơ đủa cả nắm. Những người vừa đọc xong bài biên-khảo sẽ tin rằng chúng tôi không làm vậy.

Mặc khác chúng tôi đă chứng-minh rằng người Hoa đă ư-thức rằng họ không ở nhà họ trong vùng của người Việt ái-quốc nầy. Chúng ta đă quan-sát thấy họ đă bỏ luôn cả việc hành-quân tại đây. Chúng ta đă nhận nhiều lời phàn-nàn của người An-Nam (và chúng tôi gọi như vậy toàn-thể giống dân An-Nam), ḷng mong muốn lấy lại đất của tổ-tiên họ. Chúng tôi tin rằng, nếu chúng ta cho thêm người Hoa những vùng đất mà những người An-Nam trao cho chúng ta qua một hợp-đồng, chúng ta sẽ nh́n-nhận những ǵ lấy đi từ An-Nam bằng sự gian-lận, hay bằng sự bỏ-rơi, xem thường hiệp-ước đă nối liền chúng ta với An-Nam.

Trung-tá Bonifacy.

(1) phụ-lưu của sông Chảy hay Hắc-Hà (Rivière Noire, Nam-Dâm theo tiếng Tày) mà người Hoa gọi là Tiểu-Đổ-Chú-Hà, thực sự là sông Đổ-Chú lịch-sử, là con sông ở hai bên bờ có dựng các bia đá, c̣n con sông mà họ gọi là Đổ-Chú hay Hei-Ho (Hắc-hà, Nam-Dâm) th́ là con sông mà chúng ta gọi tên là sông Chảy. Chúng ta thấy rằng người Hoa t́m cách làm lập-lờ như vào năm 1728.

(2) Con sông nầy là con sông chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam, nói chia làm hai nhánh tại điểm mà nó cắt đường biên-giới hiện tại.

(3) Các làng nầy đă không c̣n. Các xuồng dân An-Nam đi đến Bắc-Bảo. Tại đây, đường biên-giới theo hướng Bắc Đông-Bắc về hướng Cao-Ma-Bach, Cao-Ma-Po hiện tại.

(4) Chúng ta có thể phán-xét cách-thức khả-ố mà thanh-niên nầy đă gạt đại-tá (lúc nầy đă lên tướng) Pennequin. Lúc dân Mèo nổi loạn, tướng chỉ-huy trưởng Pennequin có đến vùng III quân sự để thiết-lập ḥa-b́nh. Ông có viết một lá thu, do thanh-niên nầy thảo, để gởi đến đầu-lĩnh người Mèo nổi loạn. Lá thư nầy không bao giờ được đưa lại và không bao giờ gởi. Vậy mà thanh-niên nầy đưa cho ông Pennequin một lá thư, cho đó là của quân phản-loạn, trong đó dựng chuyện rằng đầu-lĩnh người Mèo biểu-lộ ḷng yêu nước Pháp và nhắc tới việc sẽ đi sang Tàu đánh giặc cho nước Pháp. Tất-cả các thông-dịch-viên đều biết chuyện nầy. Quá tin-tưởng trong xứ nầy sẽ có hại.

(5) Chúng tôi rất thân-thiết với một viên quan lớn địa-phương, làm việc tận-tụy với đại-tá Pennequin. Ông nầy kể lại cho chúng tôi rằng có lần ông đă cảnh-cáo đại-tá rằng ông đă bị người Hoa lường-gạt trong vấn-đề biên-giới. Viên quan thường-xuyên xin đại-tá để được đi theo, nhưng luôn bị từ-chối. Dân An-Nam biết phải làm ǵ về vấn-đề Tụ-Long.

(6) Thư nầy đă không ngăn-cản được việc chính-quyền bảo-hộ đánh 10% thuế trên gỗ làm ḥm và chúng ta thấy rằng số thu-nhập trong tháng tăng 500$ tại đồn Lao-Tchai, tại biên-giới trong vùng của Hang-Tse.

16.0pt;(7) Đây là xứ Quan-Đảo thuộc Bảo-Lạc, đă mất v́ vậy các quyền sở-hữu của nó, mà người đầu-lĩnh người Mèo đă đuổi người Hoa ra khỏi chốn nầy vào năm ngoái.

 HOME