Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế . (7)
( Nguyễn Minh Cần )
4. Các lănh tụ cộng sản Việt Nam thường quả quyết rằng với sự ra đời của ĐCSVN, từ năm 1930, "quyền lănh đạo (cách mạng Việt Nam - NMC) hoàn toàn về giai cấp vô sản" (xem: Lê Duẩn. "Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam". Hà Nô.i. 1956), v́ giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất như Marx đă nói. Cứ cho rằng "phát kiến" của Marx là một định đề (postulat) không cần phải chứng minh nữa (dù trên thực tế, "phát kiến" đó đă bị thực tế bác bỏ), th́ thử hỏi: khi ra đời, ĐCSVN có phải là đảng của giai cấp vô sản không? Hồi đó, ở Việt Nam/Đông Dương đă trải qua cách mạng công nghiệp chưa? Đă có giai cấp vô sản chưa? Nếu không có th́ làm sao có thể coi ĐCSVN là đảng của giai cấp vô sản được? Và nếu nó không có tính chất vô sản th́ nó mang tính chất ǵ? Giải đáp những câu hỏi này rất cần thiết, v́ xây dựng đảng cũng giống như xây cất một ngôi nhà, cái nền móng giai cấp đầu tiên vô cùng quan trọng - trong những giai đoạn sau, khó mà thay đổi bản chất của nó được.
Theo những tài liệu công bố của nhà nghiên cứu mác-xít Trần Văn Giàu, vào năm 1929, ở Đông Dương có 220 ngàn công nhân, trong đó đông nhất là công nhân và viên chức trong các ngành công nghiệp và thương nghiệp 86 ngàn người (39%) , công nhân đồn điền 81 ngàn người (độ 36,8%), công nhân mỏ 53 ngàn người (24%). Trần Văn Giàu lưu ư người đọc rằng đó chưa kể thợ may, thợ cạo, thợ giặt, chèo thuyền, đánh xe ngựa, kéo xe tay, bồi bếp, v.v... rất đông, lại chưa kể thầy giáo trường công, trường tư, trường đạo (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội 1958, tr.169). Chẳng riêng ǵ Trần Văn Giàu, nói chung giới "học giả mác-xít" của Hà Nội đều có khuynh hướng cố vơ vào giai cấp vô sản nhiều lớp người khác để chứng minh là ở Việt Nam/Đông Dương đă có một giai cấp vô sản "đàng hoàng" trước khi thành lập ĐCS, từ đó chứng minh "quyền lănh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" đă được xác lập vững chắc. Họ thường cố ghép bừa các lớp người không thuộc về giai cấp vô sản vào một chữ chung chung là "công nhân", mà lờ đi khái niệm rơ ràng của Marx và Engels về giai cấp vô sản "là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, do cách mạng công nghiệp đẻ ra". Phải nói rằng về mặt này, tiếng Việt trước đây đă khá chính xác: trước năm 1945, trong từ vựng của dân tộc đă phân rơ các lớp người trong xă hội bằng những từ "thợ", "phu" và "thầy".... Người ta nói "thợ", "thợ máy", "thợ thủ công", v.v... (từ tập hợp là"thợ thuyền"), "phu", "phu đồn điền", "phu mỏ", "phu khuân vác", v.v... (từ tập hợp là "phu phen"), "thầy", "thầy kư", "thầy thông", "thầy giáo", v.v... một cách rất b́nh thường, hoàn toàn không có tinh thần kỳ thị. Nhưng sau tháng 8 năm 1945, những người cộng sản chỉ cho dùng một chữ "công nhân" cốt làm cho sự phân biệt đó bị xóa nḥa, làm tăng số lượng "giai cấp công nhân".
Xét về bản chất giai cấp vô sản theo đ̣i hỏi của Marx, th́ phải nhận thấy rằng ngay cả thợ thuyền trong nhà máy ở Đông Dương hồi những năm 20, 30 phần đông vẫn c̣n quan hệ kinh tế chặt chẽ với nông thôn, nhiều người có ruộng đất ở làng quê, như thế theo Marx, Lenin, là có sở hữu tư nhân. Thợ thuyền, phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác... hồi đó, phần đông xuất thân từ nông dân, lớp nghèo thành thị và lớp "đáy" xă hội mà Marx gọi là "lumpen-prolétariat" (vô sản lưu manh), điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tâm lư, năo trạng của cái gọi là "giai cấp vô sản" Việt Nam/Đông Dương. Với chất liệu xă hội như thế để xây dựng đảng, th́ làm sao ĐCS mang được tính chất vô sản? làm sao có thể gọi ĐCSVN là đảng vô sản được? Điều này càng về sau càng đẻ ra hậu quả cho dân tộc và cả cho cái gọi là sự nghiệp "vô sản" nữạ
Dù cho cứ gọi chung tất cả khối người đó là công nhân, như các nhà nghiên cứu của đảng đă quyết đoán "lấy được", và cứ giả dụ họ là một "giai cấp vô sản" thật, "sinh ra từ cuộc cách mạng công nghiệp" thật (dù cuộc cách mạng đó không có ở Đông Dương và Việt Nam!), theo đúng tiêu chuẩn của Marx thật, th́ cái tỉ lệ 1,1% công nhân (mà tuyệt đại đa số là mù chữ, không có học vấn hoặc có cũng rất thấp) so với dân số Việt Nam hồi đó (220 ngàn so với khoảng 20 triệu người; theo tài liệu của QTCS th́ thống kê dân số toàn Đông Dương hồi năm 1928 có 20 413 504 người, trong đó người Âu, không kể quân đội, là 20 528 người, dân nhập cư người Á, phần lớn Hoa kiều, là 688 317 người, "người An Nam" 19 700 695 người) th́ làm sao có thể khẳng định cái tỉ lệ rất bé nhỏ đó lại nhất định phải có "quyền lănh đạo hoàn toàn" đối với đại khối dân chúng gồm 98,9% dân số? làm sao có thể khẳng định được rằng ĐCSVN là của giai cấp vô sản và nhất định đảng ấy phải nắm độc quyền lănh đạo đất nước? Thật ra, ngay cả những "nhà lănh đạo" của ĐCSVN không mấy ai hồi đó đă đọc nổi các tác phẩm chủ yếu của các vị tổ sư của chủ nghĩa cộng sản, nhiều người may lắm là được biết vài nét sơ lược, thế th́ làm sao dám quả quyết là "quyền lănh đạo hoàn toàn về giai cấp vô sản" được? Hơn nữa, các "nhà lănh đạo" đó phải chăng là vô sản? Trong một tài liệu của QTCS bằng tiếng Pháp, nhan đề "Questions intérieurs du Parti et les fautes opportunistes dans le Parti. Tâches imédiates" (Những vấn đề nội bộ của Đảng và những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong Đảng. Những nhiệm vụ trước mắt), bài nói ngày 21.9.1931 (RSKHIDNI ở Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 561, tr.1-5) có nhận xét như sau: "những sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong ĐCSVN là do nguồn gốc xă hội của đảng"... "thành phần xă hội của đảng rất xấu, đa số là trí thức"... "tiểu tư sản thống trị", nên trong đảng có nhiều phần tử cơ hô.i. Đó là cách nh́n của QTCS đối với ĐCSVN, chúng tôi muốn giới thiệu mà không b́nh luận để bạn đọc rộng đường suy nghĩ.
V́ thế không lấy làm lạ khi thấy những thành phần không vô sản hoặc thuộc tầng lớp vô sản lưu manh giữ vai vế trọng yếu trong ĐCSVN - tổng bí thư xuất thân là hoạn lợn, ủy viên BCT kiêm chủ tịch nước vốn là cai phu đồn điền từng đánh đập phu phen, ủy viên BCT xuất thân một tên móc túi lại vỗ ngực là công nhân, v.v... Biết bao hiện tượng đáng buồn chỉ làm tủi hổ giai-cấp-vô-sản-lư-tưởng của Marx, như có những ủy viên BCT luôn miệng răn dạy đảng viên về ḷng trung thành th́ hóa ra là đă từng khai báo phản bội hay thậm chí làm tay sai cho địch, kẻ chết rồi mới phát hiện ra, người bị vỡ lở khi c̣n tại chức... Nhưng, có lẽ, đáng buồn hơn cả là sự lây lan tính chất lumpen (lưu manh) từ lănh đạo ra đảng viên, trong ĐCS ra ngoài dân chúng và đă tạo nên sự sa đọa rất trầm trọng về đạo đức, nhân cách và tinh thần trong đảng và ngoài xă hô.i. Mà hậu quả của t́nh trạng này không dễ dàng ǵ giải quyết trong một vài thế hệ dưới chế độ dân chủ. Quá tŕnh lumpenization (lưu manh hóa) vừa nói th́ không riêng ǵ ĐCSVN bị mà là một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các đảng cầm quyền. ĐCS càng hô khẩu hiệu "xây dựng con người mới xă hội chủ nghĩa" bao nhiêu th́ kết quả thu được càng ngược lại điều họ nói bấy nhiêu. Các bạn đọc đă từng sống dưới những chế độ khác nhau th́ dễ dàng so sánh và thấy rơ điều nàỵ
5. Ngay từ đầu, ĐCSVN được xây dựng theo đúng "lư luận" và mẫu mực của đảng Lenin và Stalin, nghĩa là một hội kín của những kẻ âm mưu, gồm phần lớn là "những người cách mạng chuyên nghiệp" được nuôi dưỡng, đào tạo và chỉ huy từ bên ngoài. Cái "tính chất âm mưu", "hành động khủng bố" thể hiện rơ trong hoạt động của đảng, thậm chí cả về sau này khi đảng đă nắm quyền rồi. Ngay cái nguồn tài chính của đảng suốt mấy chục năm hoạt động bí mật và kháng chiến dựa vào việc buôn lậu thuốc phiện cũng đủ nói rơ cái tính chất của đảng. Lúc mới thành lập, ĐCSVN nhắm mục tiêu trước mắt quan trọng nhất là cướp chính quyền bằng bạo lực, dưới sự chỉ huy của "những người cách mạng chuyên nghiệp". Cứ tỉnh táo nh́n vào thành phần xuất thân, tŕnh độ học vấn, v.v.... của "những người cách mạng chuyên nghiệp" đó, th́ dễ dàng nhận thấy họ là hạng người chỉ có khả năng tổ chức những cuộc âm mưu, khủng bố, đập phá, đàn áp, cưỡng bức, v.v... chứ không có khả năng làm công việc có tính xây dư.ng. V́ thế, trong suốt quá tŕnh tồn tại, đầu óc sùng bái bạo lực của ĐCS rất nă.ng. Trường Chinh đă viết: "Từ ngày ra đời, luôn luôn trung thành với tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Marx-Lenin, ... đảng ta đă xác định con đường cách mạng bạo lực là con đường duy nhất đúng đắn để đánh đổ kẻ thù giai cấp và của dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân (đúng hơn là về tay một nhúm chóp bu trong đảng - NMC), bảo vệ chính quyền cách mạng, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi..." (xem: Trường Chinh. "Đời đời nhớ ơn Các Mác và đi con đường Các Mác đă vạch ra". Hà Nội, 1969, tr.47-49). Trường Chinh nói những lời này trong dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của K.Marx (1968), ngay sau vụ bắt bớ, giam cầm hàng loạt cán bộ đảng viên bất đồng với đường lối Mao-ít của hội nghị lần thứ 9 TƯ ĐCSVN. Bài nói của ông nói nhằm biểu thị thái độ của TƯ ĐCSVN chống đường lối của ĐCSLX và tỏ t́nh đoàn kết với phe Mao-ít trong ĐCSTQ, trước ngày Lưu Thiếu Kỳ đặt chân đến Hà Nội để mưu đồ tạo thế liên kết Trung - Việt chống Liên Xô. Những lời lẽ đó phản ánh đúng thực chất tư tưởng của các lănh tụ cộng sản Việt Nam - đầu óc sùng bái bạo lực rất nặng, không chỉ khi cướp chính quyền và giữ chính quyền, mà cả khi xây dựng "xă hội mới".
Để hiểu rơ hơn thực chất của ĐCS là "một hội kín của những kẻ âm mưu", xin hăy nh́n lại lịch sử ngay từ thời kỳ thành lập đảng. Hồi năm 1929, ở Việt Nam đă có những tổ chức cộng sản xin gia nhập QTCS, đó là Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội và Tân Viê.t. Nhưng QTCS cho rằng những tổ chức đó chưa đủ tiêu chuẩn ĐCS và đă chỉ thị cho những tổ chức đó phải làm thế nào để trở thành ĐCS. Sau đó, cũng trong năm 1929, từ các tổ chức nói trên đă xuất hiện ba ĐCS - Đông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn. Cả ba tổ chức đó đều tự xưng là cộng sản nhưng lại ḱnh chống nhau kịch liê.t. QTCS bèn chỉ thị cho ba ĐCS đó phải thống nhất la.i. Ngày 6 tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa phái viên của QTCS mời đại biểu ba đảng đến Hồng Kông họp để thống nhất. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng, các đại biểu giả vờ là khán giả xem bóng đá để ho.p. Có ba người đến họp: Trịnh Định Cửu, đại biểu cho Đông Dương cộng sản đảng, Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm, đại biểu cho An Nam cộng sản đảng (xem: Trần Văn Giàu. "Giai cấp công nhân Việt Nam". Hà Nội, 1958, tr. 487). Như vậy là không có mặt Đông Dương cộng sản liên đoàn. Hội nghị quyết định thống nhất ba đảng, kể cả đảng bộ cộng sản của Hoa kiều, thành một đảng, lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, chỉ định trung ương đảng chín người. Từ đó, TƯ ĐCSVN coi ngày 6 tháng 1 là ngày thành lập ĐCSVN. Trong suốt 30 năm, hàng năm vẫn lấy ngày 6 tháng 1 để kỷ niệm thành lập đảng th́ đùng một cái, đến đại hội 3 của ĐCSVN (1960), BCT TƯ đề nghị đại hội thông qua quyết định thay đổi lại ngày thành lập ĐCSVN là ngày 3.2.1930, lấy lư do "các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô". Tại đại hội, một đại biểu (Lê Minh) lên phản bác đề nghị thay đổi ngày thành lập đảng, th́ Hồ Chí Minh ngồi trên chủ tịch đoàn gạt phăng, không cho thảo luâ.n. Thế là đại hội thông qua việc thay đổi lại ngày sinh của ĐCSVN.
Nhân thể xin nói thêm. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng ở Hồng Kông được nói đi nói lại nhiều lần trong ba bốn thập niên ṛng cứ mỗi dịp kỷ niệm thành lập đảng. Thế nhưng, đến những năm 80, chắc thấy cuộc họp trên sân bóng có vẻ lén lút như cuộc gặp mặt của những kẻ âm mưu, nên người ta đă "viết lại" sử đảng: "Sau 5 ngày làm việc hết sức khẩn trương (từ 3 đến 7 tháng 2) trong hoàn cảnh bí mật, hội nghị đă nhất trí tán thành thống nhất các đảng cộng sản..." (xem: "Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam". NXB Sự thật, 1985, tr.27).
Những chuyện đại loại như thế có nhiều trong lịch sử ĐCSVN làm nổi bật tính chất "lèm nhèm", không đàng hoàng của một hội kín của những kẻ âm mưụ
Home Xem Tiếp >>>>