Tại Sao Phải Làm Cho Đủ Công?
Ban quản trị giao khoán cho từng gia đ́nh phải làm
đủ một số công điểm cho mỗi vụ mùa, và danh
từ Việt cộng gọi là "mức giao điểm", tùy theo
số nhân khẩu trong mỗi gia đ́nh.
Nếu gia đ́nh đông người th́ mức giao điểm
caọ Ví dụ một gia đ́nh có hai lao động chính và
một lao động phụ th́ mức giao điểm là 5000
điểm, tức là trong một vụ 6 tháng phải làm đủ
5000 điểm, tức là 500 công (10 điểm là một
ngày công) mỗi lao động chính phải làm khoảng 170
công và lao động phụ 140 công.
Nghĩa là trung b́nh mỗi người trong gia đ́nh đó
phải làm 170 ngày trong 6 tháng (180 ngày) và mỗi
ngày 12 giờ mới hy vọng đạt được mức điểm
giao để được tính khẩu phần theo loại Ạ
Nói như vậy, có phải cứ sáu tháng th́ có 10
ngày nghi??
Không, con số 170 ngày công là con số lao động
được trả lương gọi là "lao động sản xuất"
như cày, bừa, gặt, háị Mỗi năm, nông dân c̣n
phải làm lao động không công tức là lao động
"Nghĩa Vụ". Việt cộng đặt ra hai loại lao động
nghĩa vụ chính:
- Loại A: Lao Động Thủy Lợi - đó là lao động
bắt buộc như đắp bờ đập, tát nước, khai
nương v...v..., mỗi năm từ 15 đến 30 công.
- Loại B: Lao Động Xă Hội - như đắp đường,
xây trụ sở, xây cầu, đi gác ban đêm.
Hai loại nghĩa vụ trên không tính công để lănh
lương, trái lại chỉ có phạt nếu thiếu nghĩa vu..
Ví dụ một người được ban quản trị hợp tác
xă phân công đi đắp đường mà v́ lư do ǵ đó
không đi th́ bị phạt từ 1 cho tới 3 công (3 ngày
công).
Như vậy, nếu gồm cả lao động nghĩa vụ với lao
động sản xuất, một xă viên không có đủ số
ngày trong một năm để làm cho đủ công điểm.
V́ thế hầu như ai cũng phải làm thêm bằng cách
ra đồng sớm hơn và ở lại tới khuya để làm
thêm. Nhưng không phải ngày nào cũng có thể ở
lại khuya để làm thêm, v́ c̣n phải đi họp để
học tập về chính sách nông nghiệp, học tập
chính trị và đủ thứ học tập khác.
Điều đó có nghĩa là dù có muốn làm cho đủ
công điểm, cũng không có đủ giờ để làm theo
ư muốn. Và thiếu công điểm là thiếu ăn.
Dù có làm đủ công điểm cũng chưa có nghĩa là
đủ ăn, v́ đến lúc thu hoạch vào cuối mùa, hợp
tác xă cộng điểm của toàn gia đ́nh và khấu
trừ ra 25% gọi là điểm Kiến Thiết Xă Hội Chủ
Nghĩa, c̣n lại bao nhiêu mới tính ra giá bằng lúa
tùy theo từng vu.. Số lúa tương ứng với mỗi
công điểm cũng không nhất định, v́ gặp năm
mất mùa, số lúa cũng giảm theo, mặc dù công
điểm không đổị
Công dân Lê văn Hùng giải thích rất rơ như sau:
"Tiền chia cho mỗi điểm tùy theo số thu tổng
kết của Hợp Tác Xă. Hợp tác xă hàng tháng
cộng chung số điểm của toàn thể dân làng. Đem
số tiền tổng thu chia cho số điểm chung của cả
dân làng, ta có tiền cho mỗi điểm. Thí dụ hợp
tác xă tổng thu được 10000 đồng và số điểm
chung của hợp tác xă là 100000 điểm, như vậy
mỗi điểm trị giá 10 xụ Mặt khác nếu số tổng
thu chỉ có 8000 đồng, th́ giá trị mỗi điểm chỉ
c̣n có 8 xụ Tóm lại giá trị mỗi điểm tùy số
tổng thu, cho nên, nếu nông dân muốn được số
tổng thu cao hơn th́ phải gia tăng sản xuất. Hạn
hán hay mất mùa là một thảm họa cho nông dân".
H́nh thức b́nh công chấm điểm bắt buộc mọi
người, đàn ông cũng như đàn bà, ông già cũng
như bà lăo phải làm việc như máy suốt ngày:
"Mệt nhọc đến độ t́nh vợ chồng cũng bị ảnh
hưởng, không c̣n sức nào mà yêu thương ân ái
với nhau được nữa". (Lời anh Lê văn Hùng)
Tuy số giờ làm việc chính thức là 12 giờ một
ngày, nhưng v́ ai cũng sợ đói, và nếu có một
hai đứa con th́ phải làm việc suốt từ 4 giờ
sáng tới 10 giờ đêm (18/24 giờ một ngày) mới
đủ ăn.
b. Đóng Góp Thuế Nông Nghiệp Và Thuế Đảm Phu..
Khi nhà nước đă nắm toàn bộ sinh hoạt, lợi
tức của dân, th́ nông dân có c̣n phải đóng
thuế nữa không?
Câu hỏi này được anh Lê văn Hùng trả lời như
sau:
"Người dân quê đâu c̣n ǵ là của riêng nữa mà
đóng thuế. Nhưng trên thực tế họ vẫn gián
tiếp phải đóng thuế v́ hợp tác xă nhân danh
tập thể đóng thuế cho nhà nước: Thuế Nông
Nghiệp, Thuế đảm phụ nghĩa vụ, Thuế đảm phụ
nghĩa thương.
"Khi hợp tác xă đóng thuế cho nhà nước dĩ
nhiên số thóc c̣n lại để chia cho xă viên phải
ít đị Thí dụ cụ thể cho dễ hiểu: Tại làng Hàm
Cách của tôi chẳng hạn, mỗi vụ lúa phải đóng 15
tấn thóc thuế nông nghiệp, 5 tấn thóc thuế
đảm phụ nghĩa vụ và 3 tấn thóc thuế đảm phụ
nghĩa thương. Tổng số thu hoạch mỗi mùa là 100
tấn thóc, đóng thuế xong chỉ c̣n 77 tấn. Thuế
nông nghiệp ấn định là 15% sản lượng, thuế
đảm phụ nghĩa vụ tùy theo t́nh h́nh chung, nhưng
không quá 5% sản lượng".
Thuế đảm phụ nghĩa vụ được cán bộ Đảng giải
thích như là một thứ thuế đóng thế chân cho
việc đi lính làm nghĩa vụ quân sư.. C̣n thuế
đảm phụ nghĩa thương là để giúp cho các thương
bệnh binh bị đau ốm hoặc bị thương v́ đi làm
nghĩa vụ quân sư..
Thuế nông nghiệp là một thứ thuế nặng nề
nhất đối với nông dân Bắc Việt, và cán bộ
Đảng trong hợp tác xă thi hành rất khắt khe, ví
dụ một cán bộ làm thổ sản ở Thanh Thủy, tỉnh
Thanh Hóa tên là Hoàng văn Kính, là cán bộ phụ
trách của tỉnh, có người cha thiếu thuế hai năm
liền, tức là phạm vào tội "dây dưa thuế nông
nghiệp". Anh Hoàng văn Kính đă bị Đảng thi hành
biện pháp kỷ luật bằng cách khai trừ khỏi
Đảng. Sau đó, anh Kính đă "thắc mắc" với chính
quyền địa phương nên bị đi cải tạọ
Chẳng những thuế nông nghiệp là một sự bóc
lột khắt khe, nhưng nông dân oán hận nhất là
nhà nước bắt trả các thứ thuế bằng thóc,
chứ không phải bằng tiền. Nông dân Nguyễn văn
Hùng đă giải thích tại sao trả thuế bằng thóc
lại thiệt hại cho dân hơn là trả bằng tiền:
"Nhà nước mỗi mùa lấy 23 tấn thóc (gồm thuế
nông nghiệp, thuế đảm phụ nghĩa vụ và thuế
đảm phụ nghĩa thương, áp dụng cho làng Hàm Cách
mỗi mùa sản xuất 100 tấn phải đóng thuế 23
tấn), như vậy nghĩa là dân mất đi 23 tấn thóc
mỗi mùạ Tại miền Bắc mỗi hột thóc quư như
hột vàng. Nếu nhà nước lấy tiền thay thóc th́
hợp tác xă thay mặt tập thể dân chúng chỉ phải
đóng 6200 đồng (giá chính thức 270 đồng một
tấn thóc). Như vậy đổ đồng mỗi người dân
(làng tôi có 100 dân) đóng 62 đồng. Với 62
đồng đó, trên thị trường chợ đen chỉ tương
đương với 70 kg thóc hay 50 kg gạo mỗi mùạ Trong
khi đó nếu dân được giữ lại 23 tấn thóc
(nếu đóng thuế bằng tiền) th́ chia đều mỗi
người được 230 kg thóc (tức là khoảng 164 kg
gạo, và nếu chia cho 6 tháng th́ trung b́nh mỗi
ngày một nông dân được thêm gần 1 kg gạo tức
là 4 bát cơm đầy). Giá trị một hột thóc ở
chỗ đó".
Chú thích: giá thóc chính thức là 270 đồng một
tấn, trong khi giá chợ đen là khoảng 800 đồng
tới 900 đồng một tấn vào lúc đó.
Sau khi đă được đóng góp sức lao động, đóng
các thứ thuế "nghĩa vụ cao cả" nghe khoái lỗ tai,
nông dân c̣n được Đảng thương cho đóng nhiều
loại quỹ khác nữạ
Cải cách ruộng đất Miền Bắc (6)
c. Đóng Góp Cho Các Thứ Quỹ Của Hợp Tác Xă.
Hợp tác xă cũng "thay mặt xă viên" để đóng
vào các loại quỹ dưới đây:
Quỹ Thủy Lợi: "Ban quản trị nói là để mua dụng
cụ máy móc làm công tác thủy lợi như dẫn nước
vào ruộng khô, hút nước ra khỏi ruộng ngập
nước, hoặc hệ thống đập nước v.v... nhân
dân đóng khá nhiều cho quỹ này, nhưng trên thực
tế, quỹ thủy lợi thực sự đi đâu mất tiêu và
không ai thấy có bằng chứng cụ thể là quỹ thủy
lợi được dùng vào mục tiêu thủy lợị Quỹ thủy
lợi đă như nước ngấm vào sa mạc hết trơn,
máy bơm nước, máy hút nước không thấy đâu,
chỉ thấy nông dân tiếp tục dùng gầu để tát
nước thấy ông bà nội".
Quỹ Tích Lũy: "Cán bộ Việt cộng tuyên truyền
rằng quỹ này được dùng để giúp đỡ xă viên
gặp hoàn cảnh khó khăn. Trên thực tế một phần
nhỏ được dùng để mua dụng cụ làm việc, c̣n
phần lớn để tổ chức những buổi liên hoan
của ban quản trị hợp tác xă, tức là các ông
trời con ở nông thôn".
Quỹ Xă Hội: "Được dùng để xây trường học,
xây nhà thương. Tất cả quỹ này được nộp cho
xă và từ xă đưa về huyện, hoàn toàn do nhà
nước nắm giữ, nhân dân làm chủ nó, nhưng không
hề biết nó được chi tiêu ra sao".
Quỹ Bảo Hiểm: Cán bộ Việt cộng tuyên truyền
cổ động như sau về quỹ bảo hiểm:
"Lao động phải an toàn. An toàn để lao động"
Việt cộng đă lên tới đỉnh cao trong việc sản
xuất những khẩu hiệu nghe qua thấy mê mẩn tâm
thần, nhưng không có liên hệ ǵ tới thực tế
của vấn đề bảo hiểm cả. Các xă viên sau khi
"nhờ" hợp tác xă "đóng tiền dùm" vào các quỹ
bảo hiểm, th́ chẳng biết những quỹ này đi
đâu, mà cũng chẳng bao giờ được hưởng những
quyền lợi do quỹ này mang lạị Tuy biết rằng
mất của, đa số nông dân vẫn đành để cho "của
đi thay người" mà không dám thắc mắc, sợ rằng
có thể được Việt cộng cho đi xa để t́m ra
sự thật như trường hợp anh Hoàng văn Kính đă
nói ở trên.
Tuy nhiên họ cũng phản ứng lại bằng cách khác
như ta sẽ thấy sau nàỵ Trong hiện tại nông dân
c̣n nhẫn nhịn th́ Việt cộng c̣n tiếp tục nhẩn
nha làm tớị Việt cộng coi nông dân miền Bắc
như một thứ trái cây có nhiều lớp vỏ ngọt
ngào tha hồ bóc lột từ lớp vỏ này tới lớp
vỏ khác để mà ăn. Từ Hồ Chí Minh cho đến tên
cán bộ hạng bét của Việt cộng đều thi đua
phát huy sáng kiến để bóc lột nông dân.
Sau khi bắt dân góp sức lao động, đóng các thứ
thuế, góp các thứ quỹ, hợp tác xă c̣n "phát huy
sáng kiến" ra một thứ "nhiệm vụ t́nh nguyện"
nuôi gà, nuôi heo cho nhà nước.
Anh Lê văn Hùng kể lại như sau:
"Về chăn nuôi, mỗi gia đ́nh bắt buộc phải nuôi
một số lợn tương đương với 100 kg thịt mỗi
năm để bán cho hợp tác xă. Việc nuôi lợn là
việc cưỡng bách và người nuôi không được
bán ra ngoài hoặc giết ăn thịt. Mỗi gia đ́nh
c̣n phải nuôi hai con gà cho hợp tác xă. Không ai
muốn nuôi lợn v́ bị lỗ vốn, nhưng vẫn bị
bắt buộc phải nuôi".
Vấn đề nuôi heo lỗ vốn đă thành quy luật của
xă hội chủ nghĩa Việt cô.ng. Anh Lê văn Hùng
giải thích lư do:
"Hợp tác xă không cung cấp lợn giống, mà cũng
không bán lợn con cho dân. V́ thế, người nuôi
lợn phải mua lợn giống ở ngoài với giá tự dọ
Những người nuôi lợn giống được bán lợn con
tự dọ Một con lợn con nặng 10 kg giá 30 đồng
(tiền miền Bắc). Lợn ở ngoài Bắc th́ nhỏ và
chậm lớn. Phải nuôi tới tám chín tháng mới
lớn tới 50 kg. Lợn được nuôi bằng cám, mà
cám th́ rất đắt. Mỗi con lợn ăn hết 4 hào
tiền cám, nghĩa là 12 đồng một tháng, hay là 96
đồng trong 8 tháng. Hai con lợn mất 192 đồng
tiền cám, và giá mua 2 con hết 60 đồng, tổng
cộng là 252 đồng tiền vốn. Hai con lợn nặng
100 kg bán cho hợp tác xă 1 đồng mỗi kg thịt theo
giá chính thức, tức là lỗ hết 152 đồng không
kể công lao khó nhọc trong tám tháng. Do đó không
ai muốn nuôi lợn nếu không bị cưỡng bách. 152
đồng là tiền công 4 tháng lao động cực nhọc
ở ngoài đồng. Nhưng nếu không chịu nuôi lợn
th́ sẽ không được ăn thịt và bị kết tội là
phản động chống lại xă hội chủ nghĩa, chỉ
biết nghĩ đến quyền lợi ích kỷ làm hại quyền
lợi chung. Ngoài ra c̣n bị phạt 30% số thóc
được mua của hợp tác xă ...".
Lư do căn bản khiến việc nuôi lợn lỗ vốn là
v́ phải mua lợn con và thức ăn ở thị trường
tự do (gần như chợ đen) và cuối cùng bán thịt
heo giá chính thức cho nhà nước. Khi tất cả nông
dân bị lỗ, th́ chỉ có một bọn hưởng lời trên
sức lao động của nông dân. Ai cũng đoán đước
bọn đó là bọn nàọ Khi anh Lê văn Hùng nói đến
việc "bị phạt 30% số thóc được mua của hợp
tác xă" th́ các độc giả chưa nếm mùi Việt
cộng có thể không hiểu điều đó nghĩa là cái
ǵ, và có thể sẽ có người bảo "cần chi phải
mua thóc của hợp tác xă?".
Thực ra đây là căn bản của chế độ hưởng
thụ, tức là vấn đề no đói của xă viên mà ta
sắp phân tích dưới đâỵ
oOo
3. Chê Độ Hưởng Thụ Của Hợp Tác Xă Cấp Thấp
Chế độ hưởng thụ của hợp tác xă cấp thấp
thay đổi theo từng mùa hay từng vụ tùy theo sự
thu hoa.ch. V́ thế, cứ tới mùa gặt hái là tất
cả ba ban kiểm soát, kế hoạch và kế toán châu
đầu lại họp với ban quản trị hợp tác xă để
ấn định mức hưởng thụ của xă viên, và danh
từ Việt cộng gọi việc này là "làm phương án
kết toán ăn chia".
ạ Định Giá Trị Của Một Công
Phương án kết toán ăn chia là đường lối đại
cương mỗi vụ mùạ Sau khi phương án làm xong, ban
quản trị quyết định mức ăn chia tức là mức
độ hưởng thụ dựa trên giá trị của mỗi công
theo cách thức mà anh Lê văn Hùng đă mô tả (một
công có thể từ 8 xu tới 10 xu). Cán bộ Việt
cộng đi kiểm tra tất cả các mảnh ruộng bằng
cách đo năng suất mỗi mảnh, rồi từ đó tính ra
mức tổng thụ
Xă viên không được trả công dựa trên mức
tổng thụ Hợp tác xă trích một phần của số
tổng thu để đóng các loại thuế, các loại quỹ,
các loại công khác. C̣n lại mới chia cho số
điểm tổng cộng của toàn thể xă viên để ấn
định giá trị của công điểm.
Hợp tác xă sẽ tùy theo công điểm của mỗi xă
viên để trả tiền cho từng người, và với số
tiền đó xă viên đến hợp tác xă để mua gạo
về ăn. Dĩ nhiên ai cũng muốn mua gạo của hợp
tác xă theo giá chính thức thay v́ mua ở ngoài
theo giá chợ đen. Nhưng điều đó không có nghĩa
là "có tiền mua tiên cũng được". Thật ra ít có
xă viên nào có đủ công điểm để mua gạo theo
đúng tiêu chuẩn ăn của ḿnh. Và dù có dư công
điểm, số gạo được mua cũng bị hạn chế bởi
cái "mức ăn quy định" giống như gông cùm để
kềm kẹp cái miệng và bao tử.
b. Mức Ăn Quy Định:
Tức là tiêu chuẩn lương thực, bao gồm những
"cấp bậc ăn uống" khác nhau tùy theo khả năng lao
động cũng như loại lao đô.ng. Khả năng lao động
được chia theo cấp bậc A, B, C như đă nói ở
trên.
C̣n các loại lao động gồm có: Lao động chính:
Những người sản xuất nông nghiệp. Lao động
phụ: Những người làm các nghề khác như đánh
cá, thủ công nghiệp, chăn nuôi, thợ nề, thợ
mộc. Mất sức lao động: Những người già cả.
Không lao động: Con nít dưới 8 tuổị
Mức ăn quy định c̣n thay đổi tùy theo vùng và
tùy theo từng giai đoạn.
Nguyễn văn Việt, một cán binh xâm nhập từ Bắc
Việt vào Nam, sinh năm 1952, khi hồi chánh năm 1970
mới được 18 tuổi cho biết về vấn đề thực
phẩm ở tỉnh Tuyên Quang (khu tự trị Việt Bắc
là nơi anh sinh trưởng). Trước khi Hoa Kỳ oanh tạc
miền Bắc (1965) th́ anh Việt c̣n nhỏ tuổi nên
không lưu ư về khẩu phần gạo là bao nhiêu,
nhưng:
"...Sau khi người Mỹ ngừng ném bom miền Bắc,
đời sống của nhân dân riêng tỉnh Tuyên Quang
trở nên sung túc hơn.... Tiêu chuẩn gạo hàng
tháng của người dân khu tự trị Việt Bắc là 21
cân gạo (21 kg) cho một lao động chính, học sinh
được 18 cân, trẻ em được 6 cân".
Về lư do tại sao người dân ở khu tự trị
được tiêu chuẩn gạo cao trong khi đa số người
dân đồng bằng miền Bắc chỉ được tối đa là
13 đến 18 cân gạo, anh Việt giải thích như sau:
"Người dân ở khu tự trị Việt Bắc vốn được
ăn uống tự do, nên tiêu chuẩn 21 cân gạo một
tháng cũng là quá ít ỏị Nếu phải ăn ít hơn
nữa họ sẽ không tin tưởng vào nhà nước".
T́nh trạng anh Việt mô tả là t́nh trạng dễ thở
tại khu tự trị Việt Bắc mà Việt cộng cần ve
vuốt nhẹ tay để tránh sự nổi loạn. Ở những
vùng khác như Thanh Hóa, vào năm 1967-1968, tiêu
chuẩn lương thực đại khái như sau:
Tiêu chuẩn gạo mỗi tháng
(lao động cừ, thừa công điểm
Loại A Số lượng
Lao động chính 9,6kg
Lao động phụ 7kg
Mất sức lao động 6,4kg
(trung b́nh, vừa đủ công điểm)
Loại B Số lượng
Lao động chính 8,4kg
Lao động phụ 6kg
Mất sức lao động 4,8kg
8 tuổi trở xuống 4-6kg
(lao động kém, thiếu công điểm)
Loại C Số lượng
Lao động chính 7kg
Lao động phụ 5,25Kg
Mất sức lao động 4kg
Dưới 8 tuổi 2-3kg
Ở làng Hàm Cách, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương,
tiêu chuẩn gạo cao hơn vùng Thanh Hóa nhưng, câu
hỏi đáng đặt ra ở đây là: "nếu đă trả tiền
theo công điểm th́ cần ǵ Việt cộng phải ấn
định tiêu chuẩn lương thực?"
Anh Lê văn Hùng đă trả lời câu hỏi trên theo
hoàn cảnh ở làng Hàm Cách, nhưng câu trả lời
của anh cũng áp dụng được cho tất cả các địa
phương khác:
"Vấn đề mức ăn quy định thực sự không giản
di.. Nhà nước ấn định cho mỗi lao động chính
là 14,4 kg gạo một tháng, lao động phụ 12 kg gạo
một tháng, trẻ nhỏ dưới 10 tuổi được 6 hoặc
7 kg gạọ Thí dụ gia đ́nh tôi 2 vợ chồng, 2 đứa
con dưới 10 tuổi, tôi được quyền mua gạo theo
tiêu chuẩn 14,4 kg cho tôi 12 kg cho vợ tôi, và 12
kg cho 2 đứa con, tổng cộng 38,4 kg gạo một
tháng. Hợp tác xă tính công điểm trả thành
tiền. Tôi lấy tiền đó mua thóc (hoặc tính ra
gạo) ở hợp tác xă. Nếu tôi làm khỏe được
nhiều điểm, tôi mua thóc đủ tiêu chuẩn, c̣n
thừa tiền mang về tiêu riêng và mua thực phẩm,
chứ không được quyền mua thêm quá tiêu chuẩn.
Nếu chẳng may v́ ốm đau hay v́ một lư do nào
đó tôi làm không đủ điểm, nhất định tôi
không đủ tiền mua thóc, th́ nguy hiểm vô cùng.
Thí dụ cho dễ hiểu: Tháng X, tôi làm ít công
điểm, cả gia đ́nh chỉ đủ mua 24 kg gạo, tức là
thiếu 14,4 kg gạọ Theo như tiêu chuẩn ấn định,
tôi không được quyền mua 14,4 kg đó, cho dù tôi
có tiền".
Tới đây, độc giả có thể hiểu "bị phạt 30%
số thóc được mua của hợp tác xă" nghĩa là ǵ,
và hậu quả ra saọ Đó là 30% số lương thực
để ăn trong cả vụ mùạ Nếu bị phạt 30% số thóc
được mua của hợp tác xă, người ta phải mua bù
ở chợ đen với giá cắt cổ th́ chỉ có nước
treo cổ lên xà nhà để tự vận (Nhưng khổ là
Đảng không cho ai chết v́ Đảng cần lao động
để sản xuất).
oOo
Home
Xem tiếp -->