I. Giai Đoạn Tổ Đổi Công
Như đã trình bày, giai đoạn tổ đổi công nằm
trong kế hoạch 3 năm lần thứ nhất sau khi kết
thúc cuộc đấu tố "long trời lở đất". Mỗi
nông dân đều được chia một mảnh đất nhỏ
để canh tác, phù hợp với tinh thần tư sản
thiên nhiên của con ngườị Trong không khí mới
đó, một số đông quần chúng la bần nông đều
cảm thấy hân hoan. Việt cộng khơi dậy không khí
vui vẻ phấn khởi bằng cách phổ biến thơ văn
của các văn nô như hai câu thơ dưới đây:
Từ đây ta có đất cày
Con ơi bưng bát cơm đầy nhớ ai
(văn nô Trần Hữu Thung)
Không phải tất cả các bần nông đều hăng hái
cánh tác trên mảnh đất mớị Có một số bỏ ra
thành thị sinh sống, một số khác cần tiền
hoặc thiếu nông cụ sản xuất nên bán ruộng đi
để làm thuệ Do đó, những người có khả năng
mua lại ruộng và có khả năng canh tác trở nên
sung túc hơn. Đó là điều Việt cộng kỵ nhất,
vì khi có sự tích lũy tư sản trong tay một số
người là có sự suy yếu quyền lực của Việt
cô.ng. Nhưng tình trạng này không kéo dài vì Việt
cộng tung hàng loạt cán bộ về nông thôn tổ
chức nông hội và "Nhóm sản xuất". Một nhóm sản
xuất là một tập hợp từ 5 đến 10 hay 15 gia
đình giúp nhau sản xuất trong tất cả các công
tác nông nghiệp. Nhóm sản xuất là hình thức
giới thiệu cho "Tổ Đổi Công". Tổ đổi công
cũng tương tự như nhóm sản xuất nhưng số gia
đình tham gia lớn hơn, từ 25 đến 30 gia đình.
Một sự khác biệt quan trọng ở sự giúp đỡ
lẫn nhau dựa trên căn bản trao đổi ngày công.
Để hướng dẫn về tổ đổi công, cán bộ
Việt cộng giải thích cho nông dân như sau:
- Một anh nông dân A không có trâu để cày hoặc
bừa mảnh đất cho kịp gieo mạ, có thể mượn
trâu của anh nông dân B. Khi mạ đã lên, tới lúc
cần cấy lúa, anh nông dân B tuy có trâu nhưng
không sử dụng vào việc cấy lúa được, mà trong
gia đình lại neo ngườị Vậy anh nông dân B có
thể mượn người trong gia đình anh nông dân A
để cấy lúa, cũng trên căn bản ngày công. Một
ngày công của một người cũng tính bằng một
ngày công của trâu, và có thể trả bằng lúa, ví
dụ 3 kg lúa một ngày công cho người thì cũng trả
như vậy cho trâụ Với tổ đổi công, Đảng ủy
xã ấn định một lịch trình theo đó các gia đình
trong tổ luân phiên làm giúp nhau, mang cày bừa,
cuốc xẻng đi canh tác giúp, hoặc sửa nhà, lợp
mái cho các gia đình trong tổ.
Quan niệm của tổ đổi công đã tạo một ấn
tượng tốt trong đầu nông dân, vì nó đưa ra
những tiêu chuẩn đẹp và đề cao tinh thần liên
đới hỗ tương. Không những thế, nó còn có vẻ
hợp lý vì giúp nông dân giải quyết được tình
trạng bế tắc khi thiếu phương tiện hoặc nông
cụ cánh tác để cho kịp "thời vụ". Ví dụ nếu
không kịp có trân để cày bừa thì không kịp gieo
mạ lúc ruộng đang có nước. Nếu lấy sức
người để cày bừa sẽ quá lâu, và sau một
trận nắng lớn đất khô sẽ không cấy lúa
được nữa, và ngôn ngữ Việt cộng gọi là
"không kịp thời vụ".
Ngoài ra, trên phương diện kinh tế, lối làm ăn
trong tổ đổi công có các đặc điểm (trên
nguyên tắc) như sau:
- Quyền tư hữu ruộng đất vẫn còn được duy
trì như trước.
- Quyền làm chủ hoa màu vẫn thuộc về người
chủ đất nông dân.
- Công của ai người ấy hưởng.
Duy có ba ý niệm mà Việt cộng muốn mớm cho
nông dân qua hình thức tổ đổi công:
Thứ nhất: Nếu có thể sử dụng trâu bò, nông
cụ của nhau, tại sao không tập trung vào một nơi
để sử dụng chung (mở đầu cho giai đoạn hợp
tác hóa nông nghiệp).
Thứ hai: Trong tổ đổi công, mọi người cùng
chung vai làm việc tập trung nhân lực, khiến cho
dân quen dần với lối làm ăn tập thể.
Thứ ba: Trong tổ đổi công có tổ trưởng, tổ
phó, tổ nông hội, tổ thanh niên, tổ chức như
công đoàn sau này, có sinh hoạt học tập đôn
đốc chủ trương của Đảng, của nhà nước, đặc
biệt là chính sách thuế nông nghiệp. Với guồng
máy tổ chức này, một mặt Việt cộng gài cán
bộ vào làm tai mắt theo dõi hành vi và tư tưởng
chính trị của mỗi nông dân, một mặt đôn đốc
chuẩn bị dân sản xuất dưới chiêu bài nhân dân
làm chủ và Đảng lãnh đạo (chưa tới giai đoạn
Nhà Nước Quản Lý). Trong mỗi buổi sinh hoạt tổ
hoặc sinh hoạt rộng lớn hơn, thành phần Đảng
viên thường len lỏi vào chiếm chừng một phần
ba, thành phần cảm tình viên cũng vào khoảng một
phần ba, và đã được Đảng vận động trước
để ủng hộ những đề nghị có lợi cho chính
sách Đảng. Như vậy bất cứ những nghị quyết
nào quan trọng đều được hai phần ba biểu
quyết, lợi cho Đảng mà bề ngoài Đảng vẫn khoe
khoang là dân chủ vì dân quyết định mọi việc.
Trong giai đoạn Tổ Đổi Công, thuế nông nghiệp
bắt đầu tăng caọ Ngay ở những vùng đất nghèo
nàn cằn cỗi như phía Nam Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh, thuế nông nghiệp cũng từ 20% đến 25%,
nghĩa là cứ 1000 kg thóc thì phải nộp tới 250 kg,
và số thóc đó phải phơi thật khô và quạt thật
sa.ch. Ở những vùng đất tốt như Thái Bình Nam
Định, thuế nông nghiệp còn cao hơn nữa, và nói
chung, thuế nông nghiệp có tiêu chuẩn cố định,
bất kể thiên tai, hạn hán hoặc lụt lộị
Việc tiến hành kế hoạch Tổ Đổi Công không
đồng loạt và đều khắp trên toàn cõi Bắc
Việt, vì Việt cộng rất dè dặt và tiến hành
làm nhiều đợt tại nhiều thí điểm khác nhaụ
Tại khu Tự Trị Việt Bắc (xem bản đồ) gồm các
tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng,
Bắc Kạn, kế hoạch tổ đổi công mãi tới năm
1964 mới bắt đầụ Như vậy, cho tới tháng
12-1958 kế hoạch tổ đổi công vẫn chưa thực
hiện xong hết trên toàn miền Bắc, chỉ mới có
65% gia đình nông dân tham gia tổ đổi công. Tuy
nhiên, tại những nơi mà tổ đổi công tiến
triển điều hòa thì chế độ hợp tác xã cấp
thấp bắt đầu được thí nghiệm.
Trong giai đoạn tổ đổi công, đời sống nông
thôn Bắc Việt tương đối còn tạm dễ thở.
Mặc dầu có một số cá nhân đi làm thuê, nhưng
những gia đình đông người nhờ nhiều nhân công
đã sản xuất nhiều, trở nên sung túc, mua thêm
trâu cày, mua thêm nông cu.. Những gia đình ít
người, tuy sản xuất ít hơn, nhưng vì ít miệng
ăn nên cũng dành dụm được ít tư sản. Đó là
hiện tượng "tích lũy tư bản" mà cộng sản không
chấp nhận. Thực ra, giai đoạn công hữu hóa đã
được hoạch định tiếp theo để giải quyết vấn
đề tích lũy tư bản nàỵ Một ích lợi hiển
nhiên trong giai đoạn tổ đổi công là Việt cộng
đã có cơ hội ước lượng chính xác năng suất
trung bình của nông dân, để đo lường trước xem
tối thiểu có thể bóc lột được của nông dân
là bao nhiêu khi bước lên giai đoạn hợp tác xã
cấp thấp (danh từ Việt cộng dùng để chỉ thủ
đoạn bóc lột này là: "Giải Phóng Sức Sản
Xuất").
oOo
Tổ Đổi Công
Thời điểm
thực hiện Số Tổ
Đổi Công Tỷ số gia đình
tham gia Tài Liệu
10-1957 72000 24,3% Báo Nhân Dân 3-10-57
11-1957 8569 29% Báo Nhân Dân 28-11-57
01-1958 102000
07-1958 137600 31,6% VNI 15-8-58 (*)
10-1958 203582 51,1% VNI 23-1-59 (*)
12-1958 300000 (**) 65% Đài Hà Nội 29-12-58
Ghi chú:
(*) VNI: Tạp chí Viet Nam Information xuất bản ở
Rangoon
(**) 300000 tổ đổi công gồm khoảng 2 đến 3
triệu gia đình nông dân
IỊ Giai Đoạn Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Trong khi chế độ Tổ Đổi Công chưa hoàn tất
đều khắp trên toàn cõi Bắc Việt, thì vào năm
1958, nghị quyết 14 của Trung Ương Đảng Lao Động
Bắc Việt đề ra nhiệm vụ và mục đích của Kế
Hoạch 3 Năm lần thứ hai là để "Xây Dựng Nền
Kinh Tế Dân Chủ Nhân Dân", khác với nền kinh tế
trong giai đoạn Tổ Đổi Công mà Việt cộng gọi
là Nền Kinh Tế Dân Tộc Tư Sản.
Cán bộ Việt cộng tổ chức học tập khắp nơi
về nhu cầu phải vượt qua giai đoạn Kinh Tế Dân
Tộc: "Cảnh Làm Thuê Cho Chủ" vẫn còn, từ đó
đưa đến tình trạng bất bình đẳng, và kềm
chế sức sản xuất, vậy phải tiến lên giai đoạn
kinh tế dân chủ nhân dân để "giải phóng sức
sản xuất và thành lập quan hệ kinh tế bình
đẳng giữa con ngườị
Hệ thống sản xuất mới trong ngành nông nghiệp
được gọi là Hợp Tác Xã Cấp Thấp. Cùng lúc
với Hợp Tác Xã Cấp Thấp ở nông thôn, có
cuộc cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh
ở thành thị mà ta sẽ nghiên cứu sau nàỵ Mặc
dầu từ cuối năm 1957 trong khi các tổ đổi công
chưa hoàn tất, một số Hợp Tác Xã Cấp Thấp
đã được phát động làm thí điểm, nhưng chính
thức vào năm 1958 phong trào Hợp Tác Xã Cấp
Thấp mới ra đời, và được thực hiện sớm
muộn tùy nơị Nhất là tại Khu Tự Trị Thái Mèo
và ở Việt Bắc như Tuyên Quang, Thái Nguyên
v.v..., phong trào hợp tác xã được thực hiện
rất muộn vì Đảng còn phải ve vuốt các nhóm
thiểu số.
Khi chế độ Hợp Tác Xã mới ra đời, Việt
cộng chưa bắt buộc toàn thể dân chúng phải gia
nhập, và phần lớn chỉ có đảng viên, giai cấp
bần nông gia nhập trước và được hưởng
những ưu quyền như con em được đi học, xã viên
được cấp phân bón, nông cụ v...v....
Những khẩu hiệu trong giai đoạn này là:
Đảng viên đi trước
Làng nước đi sau,
Đoàn viên đầu tàu
Vào hợp tác xã.
Việt cộng đã phát động phong trào hợp tác xã
một cách rầm rộ như một đại hội, với bích
chương, biểu ngữ, chiêng trống, chương trình
phát thanh, báo chí, phim ảnh cổ động cho quan
niệm hợp tác xã làm ăn,
"Buôn có bạn, bán có phường
Làm ăn có xóm có làng mới vui"
hoặc:
"Làm ăn riêng lẻ như nghé không đàn
Có tổ có đoàn, mạnh lắm ai ơi"
Để diễn tả sức mạnh của lối làm ăn hợp tác,
các văn nô nghĩ ra những lời thơ nghe rất phấn
khởi và khoái lỗ tai:
"Nghiêng đồng đổ nước ra sông"
hay là:
"Vắt đất ra nước thay trời làm mưa"
Câu trên ngợi ca cảnh tát nước từ những cánh
đồng bị úng nước để cứu cho lúa khỏi chết.
Câu dưới tả cảnh tát nước từ sông vào cánh
đồng khô cạn để cứu hạn hán. Ngoài ra, hai câu
trên còn đề cao khả năng "cải tạo thiên nhiên"
của lối làm ăn tập thể.
oOo
1. Nguyên Tắc Căn Bản của Hợp Tác Xã Cấp Thấp
Hợp tác xã cấp thấp có một số khác biệt căn
bản so với Tổ Đổi Công.
Thứ nhất: Trong Hợp tác xã cấp thấp, những xã
viên không còn làm chủ đất đai và dụng cụ làm
ruộng của mình (Việt cộng gọi là "phá vỡ
quyền tư hữu tư liệu sản xuất của tư nhân"),
những nông dân, sau khi được chia ruộng đất qua
cuộc cải cách, được cán bộ tuyên truyền gia
nhập hợp tác xã bằng cách nộp hết ruộng
đất cho hợp tác xã, nông cụ được tập trung
vào một nơi gọi là kho vật liệụ
Thứ hai: Ban quản trị hợp tác xã gồm những
thành phần đảng viên ưu tú mà thôị Ban quản trị
này lãnh đạo việc "Phân phối sức kéo" (tức là
người và trâu bò), phân phối nông cụ thành các
đội hoặc tổ sản xuất. Một xã viên sẽ không
còn làm việc trên mảnh đất cũ của mình, mà sẽ
làm trên mảnh ruộng của hợp tác xã.
Thứ ba: người nông dân sau khi vào hợp tác xã
không còn làm chủ hoa màu do mình sản xuất, không
còn gánh thóc về nhà sau mỗi mùa gặt, mà gánh
thóc vào kho lẫm của hợp tác xã. Thay vì hoa màu
thu được, người nông dân xã viên được trả
lương như một công nhân viên Nhà Nước. Tiêu
chuẩn trả lương ra sao là điều ta sẽ nói tới
saụ
Mặc dầu những nguyên tắc trên đi ngược lại
tinh thần tư sản cố hữu của người nông dân,
nhưng cán bộ Đảng đã vẽ ra trước mắt người
dân quê Việt Nam một hình ảnh huy hoàng của
tương lai: Nhờ hợp tác làm ăn, năng suất sẽ cao
hơn trước, và người hưởng lợi trực tiếp là
xã viên. Những khẩu hiệu như: "Hợp Tác, cánh
đồng năm bảy tấn" trở thành những chỉ tiêu
về gia tăng năng suất trong những kế hoạch 3 năm
và 5 năm. Ngoài ra cán bộ Đảng còn hứa hẹn
những tiến bộ kỹ thuật để nâng cao đời
sống xã viên như máy cày, máy bơm nước, điện
khí hóa nông thôn....
Nông dân miền Bắc nói chung vốn cầu an và có
tinh thần làm ăn theo xóm theo phường, nên ban
đầu cũng có nhiều người nghe lời tuyên truyền
của Đảng gia nhập hợp tác xã. Có một số ít
không gia nhập hợp tác xã vì lúc này chưa có
sự bó buộc. Theo nông dân Lê văn Hùng, thì tại
làng Hàm Cách của anh, thuộc huyện Thành Hà, tỉnh
Hải Dương, ban đầu chỉ có 20% nông dân tham gia
hợp tác xã cấp thấp. Những nông dân không gia
nhập hợp tác xã nghĩ rằng họ có thể làm ăn
riêng lẻ được, và Việt cộng cũng tạm để cho
họ yên trong giai đoạn đầụ
Đối với những nông dân gia nhập hợp tác xã,
chỉ trong vòng một thời gian ngắn đã vỡ mộng
vì những thu hoạch mà họ mang về cho gia đình
không tương xứng với một phần nhỏ của mồ hôi
nước mắt mà họ nhỏ xuống gốc ra.. Họ đã phải
đóng góp rất nhiều cho hợp tác xã, nhưng đến
cuối mùa họ tổng kết lại thì thấy phần lớn
những đóng góp của họ rơi vào một cái thùng
không đáỵ Sở dĩ như vậy là vì sự cách biệt
quá xa giữa một bên là chế độ đóng góp (gồm
có lao động, thuế, và các quỹ xã hội...), và
một bên là chế độ hưởng thụ theo công điểm
(ghi công làm việc của mỗi người).
Chế độ lao động ấn định mức làm việc của
mỗi ngườị Chế độ thuế ấn định bổn phận
tài chánh của mỗi công dân. Còn các quỹ đóng
góp thì trên lý thuyết tượng trưng cho sự để
dành hoặc sự đầu tư của nông dân giống như
quỹ an sinh xã hội hoặc những quỹ bảo hiểm của
các nước tự dọ Chế độ công điểm ghi chép
số giờ lao động mỗi người đóng góp mỗi
ngày để dựa vào đó trả tiền công cho mỗi
ngườị
Để dễ dàng nhìn thấy sự lợi hại của hợp
tác xã, ta hãy đặt lên bàn cân để so sánh sự
đóng góp công sức tài vật của nông dân, với
những số thù lao mà họ được hưởng.
oOo
2. Chế^' Độ Đóng Góp Của Xã Viên
Một đặc điểm quan trọng và nổi bật của chế
độ hợp tác xã là "hạch toán kinh tế", danh từ
Việt cộng chỉ mọi tính toán thu chi lời lỗ, ở
đây chỉ về sự đóng góp của xã viên cũng như
sự hưởng thụ của xã viên. Đây là đặc điểm
quan trọng vào bậc nhất vì nó liên quan mật
thiết đến sự tình trạng đói của xã viên, vì
thế cho nên hầu như bất cứ hồi chánh viên
nông dân nào khi được phỏng vấn cũng biết tính
toán một cách rành mạch từng đồng, từng xu
những đóng góp và hưởng thụ của xã viên. Vì
những con số đó tượng trưng cho sự no đói của
xã viên nên sẽ được trình bày khá tỉ mỉ trong
bài nghiên cứu nàỵ
ạ Đóng Góp Lao Động
Trong một hợp tác xã nông nghiệp, ban quản trị
gồm những người được Đảng lựa chọn từ
trước và được vận động ngầm từ trước,
mặc dầu cũng được bầu cho đủ hình thức dân
chủ.
Sơ đồ này cho thấy cái khung của hợp tác xã
gồm có những xã viên nằm trong các đội sản
xuất và tổ sản xuất tượng trưng cho bộ máy
sản xuất. Bộ máy này được điều khiển bởi
các đội trưởng sản xuất theo nguyên tắc "làm
việc tại đồng, phân công tại sở" có nghĩa là
các đội trưởng trở lên ban quản trị hợp tác
xã chỉ việc ngồi rung đùi tại sở để phân
công tác, và các xã viên mới là những người
phải đổ sức lao động ra tại đồng. Các tổ
trưởng là những phần tử bần nông trung kiên
vừa làm việc vừa đôn đốc, và ban kiểm soát
theo dõi ở trên, đánh giá sự làm việc của mỗi
người theo từng loại:
- Loại A: loại khỏe mạnh, làm nhanh, tích cực đi
làm sớm.
- Loại B: là loại làm việc trung bình.
- Loại C: là loại làm việc kém, hay đi trễ, không
tích cực.
Bình Công Chấm Điểm
Sau mỗi ngày làm việc, mỗi người được đánh
giá lao động bằng cách Bình Công Chấm Điểm
tức là dựa vào một người giỏi nhất để làm
tiêu chuẩn cho điểm những người khác, và gọi
tiêu chuẩn đó là "mốc khoán". Ví dụ: Trên một
mảnh ruộng do một số người làm việc gồm đủ
cả 3 loại A, B và C.
Khi chấm điểm mỗi người, loại A được 10
điểm nếu làm đủ 12 giờ một ngày, loại B
được 8 điểm và loại C chỉ được 6 điểm. Và
số 10 điểm trong một ngày làm việc của một xã
viên loại A được dùng làm chuẩn gọi là một
công. Một người loại A làm việc 3 ngày được
số điểm tương đương với 3 công lao động,
trong khi một người loại C làm việc 3 ngày chỉ
được ghi có 18 điểm, tức là chưa được 2
công lao đô.ng. Muốn đạt được 3 công, xã viên
loại C chỉ có hai cách, một là làm thêm ngày, hai
là tăng thêm giờ làm việc mỗi ngàỵ Nhưng cách
thứ nhất không thể thực hiện được vì không
ai có ngày nghỉ để làm bù nên xã viên loại C
chỉ còn một sự lựa chọn là tăng số giờ làm
mỗi ngàỵ Do đó mới có câu "Làm ngày không đủ
tranh thủ làm đêm".