III. Cuộc Đấu Tranh Tiếp Của Nhân Dân Miền Bắc
Lợi dụng hành động phủi tay của Hồ Chí Minh khi
đổ tội cho cấp dưới đi quá trớn, các nạn
nhân c̣n sống sót sau đợt đấu tranh Cải Cách
Ruộng Đất đă t́m những cán bộ cải cách để
trả thù. T́nh trạng rối loạn được mô tả trong
cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" như dưới
đây:
"Sau khi các đảng viên trung kiên được tha từ
nhà tù về, được khôi phục công quyền, khôi
phục đảng tịch và chức vụ th́ họ t́m ngay đến
các "đồng chí" đă "tố sai" để trả thù. Do đó
t́nh trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên
cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơị Uy
tín của Đảng bị xụp đổ, cán bộ đâm ra hoang
mang. Trong dịp này nhà văn Nguyễn Sáng có nói
một cách hài hước: "Lạc quan sai; bi quan cũng sai;
chỉ có hoang mang mới đúng". Nhân dân được dịp
đ̣i lại ruộng nương nhà cửa bị tịch thụ
Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa
theo để "thảo luận" với nhaụ Những địa chủ
được tha về, thấy t́nh trạng làng xóm như
vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia
đ́nh "tiểu tư sản" hồi kháng chiến đă trú ngụ
tại nhà ḿnh. Các bần cố nông, chót nghe lời
Đảng "tố điêu" nay sợ bị rạch mồm, cắt
lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp
xích-lô và đi ở thuệ V́ vậy nên dân số ở
Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và
không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố,
lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí
thức. Đáp lại vụ nổi loạn của nông dân ở
Quỳnh Lưu, thanh niên và công nhân "Nam bộ tập
kết" đập phá bót cảnh sát Bờ hồ Hà Nội (bên
cạnh ga tầu điện, đầu phố Cầu gỗ)".
Tại khắp các vùng nông thôn miền Bắc, đâu đâu
người ta cũng thấy những vành khăn tang của thân
nhân những người bị giết trong cải cách ruộng
đất. Cho tới nay, không ai biết được con số
chính xác những nạn nhân bị Việt cộng tàn sát.
Chỉ có một yếu tố then chốt để giúp người
ta ước lượng số nạn nhân đó là yếu tố
"kích tỷ lệ" được đề cập ở phần đầụ
Với dân số miền Bắc vào giai đoạn 1956 khoảng
chừng 20 triệu người tức là vào khoảng 4 triệu
gia đ́nh nông dân, ta hăy giả sử 2% gia đ́nh nông
dân bị liệt vào giai cấp cường hào địa chủ
nằm trong sổ đen của Việt cô.ng. Qua kỹ thuật
"kích tỷ lệ", những tên cán bộ trung kiên trong
các đội cải cách đă thực hiện đúng chỉ tiêu
bằng cách phát hiện và đem ra giết đủ tỷ lệ
tối thiểu là 2% mỗi xă. Như vậy trên toàn
miền Bắc, những gia đ́nh nông dân có thể bị
giết ít nhất là 80.000 người trong cuộc cải
cách ruộng đất nếu các đội cải cách "kích tỷ
lệ" theo đúng chỉ tiêu của Đảng đề rạ
Trong lịch sử Việt Nam, chưa ai nghe thấy có thời
kỳ nào lực lượng ngoại bang thống trị đă tàn
sát nhân dân một cách lạnh lùng máy móc như
vậỵ Nỗi căm hờn uất hận của nạn nhân cải
cách ruộng đất cùng thân nhân của họ đă lên
tới mức cùng cực, nhưng sau khi Hồ Chí Minh đưa
ra chính sách sửa sai, th́ chế độ Việt cộng
đă thoát khỏi một cuộc nổi loạn bạo động lan
rộng v́ một số nguyên nhân chính:
a) Đa số những người mà tính mệnh bị đe dọa
đồng thời là những người có tiềm năng lănh
đạo nổi loạn th́ đă chết rồi, c̣n lại một
số nhỏ được tha về và được khôi phục lại
công quyền, tự coi là ḿnh đă thoát chết trong
đường tơ kẽ tóc và cần được yên thân. Mặc
dù có một số người liều mạng đi t́m đội
cải cách để trả thù, nhưng hầu hết không dám
có ư định chống lại kẻ chủ mưu đại gian đại
ác là Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động, hoặc là
v́ họ tưởng cấp dưới làm sai chính sách Đảng,
hoặc v́ họ nh́n ra Hồ Chí Minh và Đảng của họ
Hồ quá nguy hiểm và quá ma.nh. Nguy hiểm v́ chúng
ném đá dấu tay, xúi giai cấp nọ giết giai cấp
kia để chúng bảo toàn lực lươ.ng. Mặt khác,
chúng quá mạnh v́ có súng đạn trong tay, c̣n họ
th́ thân cô thế cộ
b) Phần đại đa số nông dân c̣n lại là phú
nông, trung nông và bần nông th́ như cá nằm
trốc thớt. Tuy tính mạng của họ chưa bị đe dọa
v́ chưa bị liệt vào hàng cường hào địa chủ
nhưng trông gương những vụ đấu tố chụp mũ, họ
biết rằng bất cứ ai cũng có thể bị kết tội
là "liên quan" hoặc "phản động" ("liên quan" là
nói tắt của "liên quan với địa chủ cường
hào").
Vậy, cho dù có nhiều người trong ḷng c̣n căm
hận, nhưng ngoài mặt không dám ngo ngoẹ Duy có
một thành phần trí thức văn nghệ sĩ dám hiên
ngang đứng lên chống Đảng và kể tội Đảng.
Thành phần này gồm có những nhân vật đă tham
gia kháng chiến từ những ngay đầu cho tới khi
kháng chiến chống Pháp thành công. Đó là những
người đă nằm trong ḷng của cuộc kháng chiến
chống Pháp và đă nh́n ra bản chất cộng sản của
bọn Hồ Chí Minh. Là những người có tinh thần
Quốc Gia, một số những người này đă ngây thơ
lựa chọn con đường chống thực dân trước, cho
tới khi thành công rồi sẽ thanh toán cộng sản sau
(!!!). Một số c̣n lại đă t́m cớ nọ cớ kia
để từ từ ngưng hợp tác với Đảng ngay từ
trước khi kháng chiến chống Pháp thành công,
mặc dầu họ vẫn được mọi người mến chuộng
và được coi là giới trí thức và văn nghệ sĩ
kháng chiến.
Là những người nặng ḷng với đất nước,
giới trí thức và văn nghệ sĩ kháng chiến về
thủ đô đă rất đau ḷng và căm hận chính sách
tương tàn của bọn Hồ Chí Minh, và lợi dụng hoàn
cảnh thuận lợi khi họ Hồ đề ra chính sách sửa
sai, giới trí thức văn nghệ sĩ đă vùng lên
đấu tranh, tạo nên một chấn động trong dư
luận thế giới sau khi có cuộc nổi dậy của
nông dân Quỳnh lưu, Nghệ An.
Cuộc nổi dậy của nông dân Quỳnh Lưu gây một
chấn động lớn v́ nó xảy ra ngay tại tỉnh Nghệ
An, quê quán của Hồ Chí Minh, và nó cho thấy ngay
đối với nhân dân tỉnh nhà, Hồ Chí Minh là một
đứa con vô liêm sỉ bị từ bỏ. Hồ Chí Minh rất
căm hận hành động nổi dậy, nên đă dùng các
sư đoàn Nam Bộ Tập Kết để đàn áp, giết và
đày ải hơn 6.000 nông dân, đồng thời cố t́nh
bít kín mọi tin tức liên quan đến cuộc nổi
dậy này không lọt ra thế giới bên ngoàị
Trong khi nông dân Nghệ An nổi dậy dùng gậy
gộc, dáo mác đánh Việt cộng th́ văn nghệ sĩ
miền Bắc dùng ng̣i bút, đánh Việt cộng bằng
những bài văn, những lời thơ sắc như thép:
Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngă
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá
(Phùng Quán trong bài "Lời mẹ dặn")
Cải cách ruộng đất Miền Bắc (4)
Trong khi thế giới biết rất ít về những chi
tiết của cuộc nổi loạn của nông dân Quỳnh Lưu,
th́ trái lại những tài liệu của cuộc nổi dậy
của văn nghệ sĩ miền Bắc đă được bí mật
gởi ra ngoài, bằng giấy trắng mực đen, khiến
cho lịch sử văn học đă ghi được đầy đủ chi
tiết về nội dung cuộc nổi dậy, những văn
nghệ sĩ tham gia và đường lối đấu tranh của
giới văn nghệ sĩ miền Bắc, v.v.... Nhờ đó,
những văn thi họa phẩm của giai đoạn "Trăm Hoa
Đua Nở" trên đất Bắc đă không bị mai một, dù
cộng sản t́m cách thủ tiêu, và những tài liệu
trên đă đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc,
tiêu biểu cho một trong những giai đoạn văn học
phản ảnh trung thực sức đấu tranh dũng mănh của
dân tộc.
1. Nội Dung Cuộc Nổi Dậy Của Văn Nghệ Sĩ Và
Trí Thức Miền Bắc
Diễn đàn của giới trí thức văn nghệ sĩ đấu
tranh khởi đầu là cuốn sách Giai Phẩm 1956 c̣n
gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân được xuất bản vào
khoảng tháng 3-1956, trước khi có chiến dịch sửa
sai . Sau khi Nikoyan sang Hà Nội giải thích chính
sách của Liên Xô, đưa đến vụ sửa sai, th́ phong
trào nổi dậy đă bùng lên với Giai Phẩm Mùa Thu
(29-8-1956) Giai Phẩm Mùa Đông (1956), tờ báo Nhân
Văn (liên tiếp trong nhiều số), tờ Đất Mới,
tuần báo Trăm Hoa, tờ nhật báo Thời Mới, và
ngay cả báo Văn của Đảng. Tuy nhiên, tiêu biểu
nhất trong những tài liệu trên là báo Nhân Văn
và các quyển Giai Phẩm, cho nên người ta quen gọi
phong trào nổi dậy của văn nghệ sĩ là Phong Trào
Nhân Văn - Giai Phẩm
Nội dung của Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm là
đấu tranh chống chế độ Việt cộng trên hai
lănh vực chính:
- Đường lối chính sách của Đảng
- Hệ thống lănh đạo của Đảng
Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đánh vào đường
lối chính sách tức là đánh tận gốc Chủ Nghĩa
Cộng Sản, chĩa mũi dùi vào chủ trương giai cấp
đấu tranh người bóc lột người, chính sách cải
cách ruộng đất, chính sách cải tạo công thương
nghiệp tư bản tư doanh tại thành thị, đồng thời
tấn công vào liên minh giai cấp đấu tranh giữa
Việt cộng và Trung Quốc. Một trong những tài
liệu quan trọng nhất thuộc loại này là cuốn
"Nắng Chiều" của cụ Phan Khôi, gồm nhiều bài
bút kư, tạp văn, bị Việt cộng cấm xuất bản,
may nhờ có Đoàn Giỏi, một cán bộ Đảng đem ra
mổ xẻ phê b́nh trên báo Văn Nghệ của Đảng số
15, xuất bản tháng 8-1958, người ta mới biết về
nó. Sau đó, Đoàn Giỏi đă bị phê b́nh kiểm thảo
là cố t́nh mổ xẻ chửi bới cụ Phan Khôi nhằm
mục đích phổ biến tài liệu chống Đảng. Tội
nặng nhất của cụ Phan khôi được phát hiện
trong cuốn Nắng Chiều nằm trong các chuyện Nuôi
vịt ở miền Nam, "Tiếng Chim", "Thái Văn Thu" và
chuyện Ba Ông Vua Càn Long, Quang Trung và Chiêu
Thống.
Trong chuyện "Tiếng Chim", cụ Phan Khôi đă thuật
chuyện hai con quạ không dành nhau miếng ăn để
ngụ ư mỉa mai vấn đề đấu tranh giai cấp là
vấn đề căn bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong
chuyện Nuôi vịt ở miền Nam, cụ Phan Khôi thuật
lại cách làm việc và cách sống của chủ và
người làm thuê đều cực khổ như nhau, đồng
thời chủ chẳng những trả công cho thợ mà c̣n
chia hoa hồng cho thợ mỗi khi được mùa, vừa có
ư ám chỉ rằng cảnh người bóc lột người theo
quan niệm đấu tranh giai cấp là không hoàn toàn
có thực mà c̣n có ư ám chỉ Đảng bóc lột
người hơn những người chủ nuôi vịt. Trong
chuyện "Ba Ông Vua", Đoàn Giỏi giải thích rằng cụ
Phan có ư ám chỉ "quan hệ ngoại giao giữa Quang
Trung và Càn Long ngày xưa không khác ǵ quan hệ
hữu nghị giữa ta và Trung Quốc ngày nay, một con
cáo và một con sói đồng t́nh vật chết một con
dê".(Xem Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, trang 94)
Ngoài việc đả kích tư tưởng đấu tranh giai
cấp, căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Phong Trào
Nhân Văn - Giai Phẩm c̣n kêu gọi mọi người
đứng lên chống lại chủ nghĩa đó. Trong bài
"Tiếng Hát", một vở kịch thơ ngắn, Hoàng Cầm
đă cất tiếng kêu gọi qua tiếng hát của Trương
Chi:
Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào ai sống nhục chết oan
Nào ai tan ĺa đôi lứa
Nghe tiếng hát này...
để ám chỉ những nạn nhân của cải cách ruộng
đất, và tiếp theo đó kêu gọi mọi người hăy
theo "Tiếng gọi của trời cao, của đất rộng"
quyết "Vượt qua tường đá" của hệ thống kềm
kẹp áp bức của Việt cô.ng.
Một mặt chống đường lối chủ trương Đấu
Tranh Giai Cấp của Đảng, một mặt khác Phong Trào
Nhân Văn - Giai Phẩm đánh thẳng vào hệ thống
lănh đạo Đảng gồm có con người và tổ chức.
Về con người lănh đạo, các văn nghệ sĩ đánh
từ Hồ Chí Minh trở xuống cho tới các cán bộ
cao cấp Trung Ương như Trường Chinh, các cán bộ
lănh đạo văn nghệ như Tố Hữu, Hoài thanh, Xuân
Diệu mà mọi người gọi là những tên "cai văn
nghệ".
Một nhà thơ trẻ là Lê Đạt đă dám ví Hồ Chí
Minh như cái b́nh vôi:
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái b́nh vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại
Cụ Phan Khôi c̣n viết bài "Ông B́nh Vôi" trong Giai
Phẩm Mùa Thu tập I, với một câu giải thích
rằng cái b́nh vôi sống lâu "cũng như pho tượng
đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích,
th́ người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng
"Ông". Chẳng những cụ đánh thẳng vào Hồ Chí
Minh mà c̣n đánh luôn những bọn văn nô đă tôn
thờ sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh nữạ Cụ Phan
Khôi c̣n chọc quê Hồ Chí Minh là Ông B́nh Vôi v́
Hồ Chí Minh đă phạm tội tầy đ́nh trong cuộc
cải cách ruộng đất, mà c̣n giả đ̣ ù lỳ vô
trách nhiệm, phủi tay chối tội và bắt Trường
Chinh chịu tội thay cho ḿnh.
Bài thơ "Nhất định thắng" của Trần Dần đă
khiến nhà thơ này bị ngồi tù, bị đấu tố và
đă dùng lưỡi dao cạo cứa cổ tự tử mà không
chết. Trần Dần là nhà văn Đảng viên thuộc
giới trẻ trong Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm, đă
tham dự trận Điện Biên Phủ, sau đó v́ chống
Đảng mà bị đi tù ở Việt Bắc. Tới khi dư
luận chống đối của giới trí thức kháng chiến
trở nên quá sôi nổi, Trần Dần mới được
Việt cộng đưa về miền đồng bằng và bắt đi
theo chiến dịch cải cách ruộng đất. Tiếp theo
đó xảy ra Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm, Hoàng
Cầm là bạn của Trần Dần đă đem in một bài
thơ của Trần Dần vốn được viết từ năm 1954
với nội dung đấu tranh chống đối, đồng thời
đề nghị Trần Dần viết thêm một đoạn cho có
"lập trường tốt" như thế mới được phép
xuất bản và đặt tên bài thơ là "Nhất định
thắng". Ngay trong phần đầu có tính chất đấu
tranh, Trần Dần cũng đánh bằng những đ̣n rất
kín khiến Việt cộng dù đem ông ra đấu tố,
cũng chỉ bắt bẻ bâng quơ về cách dùng chữ
không ổn, "phạm húy". Đọc bài thơ Nhất định
thắng của Trần Dần, người ta phải đặt ḿnh
vào khung cảnh 1954 với không khí bàng hoàng của
Hiệp Định Genève cắt đôi đất nước, hàng
triệu người nông dân miền Bắc hốt hoảng bỏ
trốn cộng sản, trong tâm tư họ c̣n hằn vết
thương đỏ ḷm của đấu tranh Giảm Tô trước
1954, rồi cảnh gia đ́nh xé đôi v́ người đi Nam
kẻ ở lại Bắc (người vợ trẻ của Trần Dần
lạc lơng giữa Hà Nội v́ cha mẹ đă di cư), rồi
cảnh bộ đội Nam bộ tập kết được sử dụng
để đàn áp cuộc nổi dậy ở Quỳnh Lưụ Có
đặt ḿnh vào hoàn cảnh 1954 người ta mới
mường tượng đọc ra được những ẩn ư lên án
Hồ Chí Minh chia đôi đất nước bằng cách kư
Hiệp Định Genève:
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tă mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng, máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
A! Cái lưỡi dao cùn
Không giết được, mà đau
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh
Hăy nh́n xem có phải vết daỏ
Không đứt được mà đau!
Lưng Tổ Quốc hôm nay rướm máụ
Và kế đến là cảnh đát nước miền Bắc ngập
trong điêu linh dưới chế độ mới:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ....
Rồi bằng những câu hỏi "buộc tội" đối với
trách nhiệm về phong trào di cư, Trần Dần cầm
bút chỉ vào Hồ Chí Minh:
"Họ vẫn ra đi
Nhưng sao bước ră rờỉ
Sao họ khóc? Họ có ǵ thất vọng?"
Và:
"Ai dẫn họ đỉ
Aỉ
Dẫn đi đâủ
Mà họ khóc măi thôi"
Và cũng vẫn bằng những câu hỏi làm Việt cộng
không trả lời được:
Ai có lư và ai có lực?
Ai người tin? Ai kẻ ngă ḷng tin?
Cuối cùng, Trần Dần phang bốn câu làm cán bộ
lănh đạo văn hóa của Việt cộng hết nhịn nổi:
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy
Người vẫn vội -
Người chưa kiên nhẫn mấỵ
Trần Dần bị hạch tội đă dùng danh từ "Người"
viết bằng chữ lớn xưa nay được cán bộ Việt
cộng dùng để chỉ Hồ Chí Minh với sự tôn sùng
tột đô.. Tuy Trần Dần bị bỏ tù nhưng cán bộ
Việt cộng không dám nói đích danh tội phỉ báng
Hồ Chí Minh của Trần Dần cũng như của cụ Phan
Khôị Giống như dưới thời đại "cực kỳ phong
kiến", riêng việc nhắc tới những lời "khi
quân" phỉ báng của người khác cũng đủ là một
sự phạm thượng đại nghịch, và không một tên
Việt cộng nào dám làm.
Ngoài việc tấn công tên đầu sỏ của Việt
cộng, các văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc
c̣n đả kích hệ thống lănh đạo Việt cộng qua
tổ chức "Hội các nhà văn", tổ chức Mậu Dịch
Quốc Doanh, đồng thời đả kích tính chất phi
pháp của cải cách ruộng đất qua bài tham luận
của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường mà ta sẽ có dịp
đề cập tới trong một đoạn khác.
* Trên đây ta đă tóm lược cuộc đấu tranh
tiếp theo của Nhân Dân miền Bắc để chống lại
sự phản bội kháng chiến của Hồ Chí Minh và
cuộc tàn sát dă man qua Cải Cách Ruộng Đất.
Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm tượng trưng cho
một cuộc nổi dậy có tổ chức và tư tưởng
chỉ đạo quy mô hơn cả. Tuy nhiênnó cũng có
nhược điểm quan trọng và đă bị dập tắt sau
khi Hồ Chí Minh kư một sắc lệnh ngày 15-12-1956
chính thức hủy bỏ quyền tự do ngôn luận, cấm
lưu hành tất cả các nhật báo, tạp chí, sách vở
văn nghệ phẩm chống đốị
Trước khi kư sắc lệnh bịt miệng văn nghệ sĩ,
Hồ Chí Minh đă phóng ra một chiến dịch dùng báo
chí Đảng chụp mũ tội "gián điệp" của Pháp và
của Mỹ lên đầu nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, tổ
chức học tập khắp nơi, và cán bộ Đảng thúc
đẩy các đoàn thể công nông binh, học sinh và
dân Nam bộ tập kết kư kiến nghị tự xưng là
"mọi từng lớp nhân dân" đ̣i nhà nước trừng
trị nhóm Nhân Văn.
Sau khi bịt miệng văn nghệ sĩ, Việt cộng chỉ cho
phép báo của Đảng múa vơ một ḿnh. Hội văn
nghệ của Đảng được chỉ thị cho ra báo Văn.
Nhưng múa vơ một ḿnh trong một thời gian, báo
Văn trở nên nhạt nhẽo quá khiến ban chủ nhiệm
cũng phải cảm thấy nản, và quay ra chống Đảng
bằng cách đăng những bài của nhóm Nhân Văn Giai
Phẩm. Việt cộng bèn đàn áp thẳng tay, bắt 304
văn nghệ sĩ đi chỉnh huấn, sau đó đi "Lao Động
Cải Tạo" ở những vùng rừng thiêng nước độc
của Việt Bắc. Hành động bịt miệng và đàn áp
thẳng tay đối với văn nghệ sĩ đă tạm thời
chấm dứt một h́nh thức chống đối trên Mặt
Trận Văn Hóa, nhưng chưa chấm dứt phong trào
đấu tranh của nhân dân dưới các h́nh thức
khác. Cuộc đấu tranh phi quy ước giữa Việt
cộng và các tầng lớp nhân dân bị áp bức c̣n
đương diễn ra trên Mặt Trận Kinh Tế qua các
giai đoạn tiếp theo gồm có công hữu hóa ruộng
đất vườn ao, hợp tác xă cấp thấp, hợp tác
xă cấp cao,v.v...
Các cuộc đấu tố của giai đoạn đă qua cho tới
năm 1956 mới chỉ là Màn I của tấn kịch cải cách
ruộng đất.Giai đoạn đấu tranh từ 1951 đến
1956 đưa tới vụ sửa sai và Phong Trào Nhân Văn -
Giai Phẩm có một số đặc điểm rất điển
h́nh đáng cho ta ghi chép lại đâỵ
Home
Xem tiếp -->