III. Cuộc Đấu Tranh Tiếp Của Nhân Dân Miền Bắc 

Lợi dụng hành động phủi tay của Hồ Chí Minh khi 
đổ tội cho cấp dưới đi quá trớn, các nạn 
nhân c̣n sống sót sau đợt đấu tranh Cải Cách 
Ruộng Đất đă t́m những cán bộ cải cách để 
trả thù. T́nh trạng rối loạn được mô tả trong 
cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" như dưới 
đây: 

"Sau khi các đảng viên trung kiên được tha từ 
nhà tù về, được khôi phục công quyền, khôi 
phục đảng tịch và chức vụ th́ họ t́m ngay đến 
các "đồng chí" đă "tố sai" để trả thù. Do đó 
t́nh trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên 
cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơị Uy 
tín của Đảng bị xụp đổ, cán bộ đâm ra hoang 
mang. Trong dịp này nhà văn Nguyễn Sáng có nói 
một cách hài hước: "Lạc quan sai; bi quan cũng sai; 
chỉ có hoang mang mới đúng". Nhân dân được dịp 
đ̣i lại ruộng nương nhà cửa bị tịch thụ 

Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa 
theo để "thảo luận" với nhaụ Những địa chủ 
được tha về, thấy t́nh trạng làng xóm như 
vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia 
đ́nh "tiểu tư sản" hồi kháng chiến đă trú ngụ 
tại nhà ḿnh. Các bần cố nông, chót nghe lời 
Đảng "tố điêu" nay sợ bị rạch mồm, cắt 
lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp 
xích-lô và đi ở thuệ V́ vậy nên dân số ở 
Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và 
không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, 
lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí 
thức. Đáp lại vụ nổi loạn của nông dân ở 
Quỳnh Lưu, thanh niên và công nhân "Nam bộ tập 
kết" đập phá bót cảnh sát Bờ hồ Hà Nội (bên 
cạnh ga tầu điện, đầu phố Cầu gỗ)". 

Tại khắp các vùng nông thôn miền Bắc, đâu đâu 
người ta cũng thấy những vành khăn tang của thân 
nhân những người bị giết trong cải cách ruộng 
đất. Cho tới nay, không ai biết được con số 
chính xác những nạn nhân bị Việt cộng tàn sát. 
Chỉ có một yếu tố then chốt để giúp người 
ta ước lượng số nạn nhân đó là yếu tố 
"kích tỷ lệ" được đề cập ở phần đầụ 
Với dân số miền Bắc vào giai đoạn 1956 khoảng 
chừng 20 triệu người tức là vào khoảng 4 triệu 
gia đ́nh nông dân, ta hăy giả sử 2% gia đ́nh nông 
dân bị liệt vào giai cấp cường hào địa chủ 
nằm trong sổ đen của Việt cô.ng. Qua kỹ thuật 
"kích tỷ lệ", những tên cán bộ trung kiên trong 
các đội cải cách đă thực hiện đúng chỉ tiêu 
bằng cách phát hiện và đem ra giết đủ tỷ lệ 
tối thiểu là 2% mỗi xă. Như vậy trên toàn 
miền Bắc, những gia đ́nh nông dân có thể bị 
giết ít nhất là 80.000 người trong cuộc cải 
cách ruộng đất nếu các đội cải cách "kích tỷ 
lệ" theo đúng chỉ tiêu của Đảng đề rạ 

Trong lịch sử Việt Nam, chưa ai nghe thấy có thời 
kỳ nào lực lượng ngoại bang thống trị đă tàn 
sát nhân dân một cách lạnh lùng máy móc như 
vậỵ Nỗi căm hờn uất hận của nạn nhân cải 
cách ruộng đất cùng thân nhân của họ đă lên 
tới mức cùng cực, nhưng sau khi Hồ Chí Minh đưa 
ra chính sách sửa sai, th́ chế độ Việt cộng 
đă thoát khỏi một cuộc nổi loạn bạo động lan 
rộng v́ một số nguyên nhân chính: 

a) Đa số những người mà tính mệnh bị đe dọa 
đồng thời là những người có tiềm năng lănh 
đạo nổi loạn th́ đă chết rồi, c̣n lại một 
số nhỏ được tha về và được khôi phục lại 
công quyền, tự coi là ḿnh đă thoát chết trong 
đường tơ kẽ tóc và cần được yên thân. Mặc 
dù có một số người liều mạng đi t́m đội 
cải cách để trả thù, nhưng hầu hết không dám 
có ư định chống lại kẻ chủ mưu đại gian đại 
ác là Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động, hoặc là 
v́ họ tưởng cấp dưới làm sai chính sách Đảng, 
hoặc v́ họ nh́n ra Hồ Chí Minh và Đảng của họ 
Hồ quá nguy hiểm và quá ma.nh. Nguy hiểm v́ chúng 
ném đá dấu tay, xúi giai cấp nọ giết giai cấp 
kia để chúng bảo toàn lực lươ.ng. Mặt khác, 
chúng quá mạnh v́ có súng đạn trong tay, c̣n họ 
th́ thân cô thế cộ 

b) Phần đại đa số nông dân c̣n lại là phú 
nông, trung nông và bần nông th́ như cá nằm 
trốc thớt. Tuy tính mạng của họ chưa bị đe dọa 
v́ chưa bị liệt vào hàng cường hào địa chủ 
nhưng trông gương những vụ đấu tố chụp mũ, họ 
biết rằng bất cứ ai cũng có thể bị kết tội 
là "liên quan" hoặc "phản động" ("liên quan" là 
nói tắt của "liên quan với địa chủ cường 
hào"). 

Vậy, cho dù có nhiều người trong ḷng c̣n căm 
hận, nhưng ngoài mặt không dám ngo ngoẹ Duy có 
một thành phần trí thức văn nghệ sĩ dám hiên 
ngang đứng lên chống Đảng và kể tội Đảng. 
Thành phần này gồm có những nhân vật đă tham 
gia kháng chiến từ những ngay đầu cho tới khi 
kháng chiến chống Pháp thành công. Đó là những 
người đă nằm trong ḷng của cuộc kháng chiến 
chống Pháp và đă nh́n ra bản chất cộng sản của 
bọn Hồ Chí Minh. Là những người có tinh thần 
Quốc Gia, một số những người này đă ngây thơ 
lựa chọn con đường chống thực dân trước, cho 
tới khi thành công rồi sẽ thanh toán cộng sản sau 
(!!!). Một số c̣n lại đă t́m cớ nọ cớ kia 
để từ từ ngưng hợp tác với Đảng ngay từ 
trước khi kháng chiến chống Pháp thành công, 
mặc dầu họ vẫn được mọi người mến chuộng 
và được coi là giới trí thức và văn nghệ sĩ 
kháng chiến. 

Là những người nặng ḷng với đất nước, 
giới trí thức và văn nghệ sĩ kháng chiến về 
thủ đô đă rất đau ḷng và căm hận chính sách 
tương tàn của bọn Hồ Chí Minh, và lợi dụng hoàn 
cảnh thuận lợi khi họ Hồ đề ra chính sách sửa 
sai, giới trí thức văn nghệ sĩ đă vùng lên 
đấu tranh, tạo nên một chấn động trong dư 
luận thế giới sau khi có cuộc nổi dậy của 
nông dân Quỳnh lưu, Nghệ An. 

Cuộc nổi dậy của nông dân Quỳnh Lưu gây một 
chấn động lớn v́ nó xảy ra ngay tại tỉnh Nghệ 
An, quê quán của Hồ Chí Minh, và nó cho thấy ngay 
đối với nhân dân tỉnh nhà, Hồ Chí Minh là một 
đứa con vô liêm sỉ bị từ bỏ. Hồ Chí Minh rất 
căm hận hành động nổi dậy, nên đă dùng các 
sư đoàn Nam Bộ Tập Kết để đàn áp, giết và 
đày ải hơn 6.000 nông dân, đồng thời cố t́nh 
bít kín mọi tin tức liên quan đến cuộc nổi 
dậy này không lọt ra thế giới bên ngoàị 

Trong khi nông dân Nghệ An nổi dậy dùng gậy 
gộc, dáo mác đánh Việt cộng th́ văn nghệ sĩ 
miền Bắc dùng ng̣i bút, đánh Việt cộng bằng 
những bài văn, những lời thơ sắc như thép: 

Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời 
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi 
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngă 
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi 
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá 

(Phùng Quán trong bài "Lời mẹ dặn") 




Cải cách ruộng đất Miền Bắc (4) 

Trong khi thế giới biết rất ít về những chi 
tiết của cuộc nổi loạn của nông dân Quỳnh Lưu, 
th́ trái lại những tài liệu của cuộc nổi dậy 
của văn nghệ sĩ miền Bắc đă được bí mật 
gởi ra ngoài, bằng giấy trắng mực đen, khiến 
cho lịch sử văn học đă ghi được đầy đủ chi 
tiết về nội dung cuộc nổi dậy, những văn 
nghệ sĩ tham gia và đường lối đấu tranh của 
giới văn nghệ sĩ miền Bắc, v.v.... Nhờ đó, 
những văn thi họa phẩm của giai đoạn "Trăm Hoa 
Đua Nở" trên đất Bắc đă không bị mai một, dù 
cộng sản t́m cách thủ tiêu, và những tài liệu 
trên đă đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc, 
tiêu biểu cho một trong những giai đoạn văn học 
phản ảnh trung thực sức đấu tranh dũng mănh của 
dân tộc. 

1. Nội Dung Cuộc Nổi Dậy Của Văn Nghệ Sĩ Và 
Trí Thức Miền Bắc 

Diễn đàn của giới trí thức văn nghệ sĩ đấu 
tranh khởi đầu là cuốn sách Giai Phẩm 1956 c̣n 
gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân được xuất bản vào 
khoảng tháng 3-1956, trước khi có chiến dịch sửa 
sai . Sau khi Nikoyan sang Hà Nội giải thích chính 
sách của Liên Xô, đưa đến vụ sửa sai, th́ phong 
trào nổi dậy đă bùng lên với Giai Phẩm Mùa Thu 
(29-8-1956) Giai Phẩm Mùa Đông (1956), tờ báo Nhân 
Văn (liên tiếp trong nhiều số), tờ Đất Mới, 
tuần báo Trăm Hoa, tờ nhật báo Thời Mới, và 
ngay cả báo Văn của Đảng. Tuy nhiên, tiêu biểu 
nhất trong những tài liệu trên là báo Nhân Văn 
và các quyển Giai Phẩm, cho nên người ta quen gọi 
phong trào nổi dậy của văn nghệ sĩ là Phong Trào 
Nhân Văn - Giai Phẩm 

Nội dung của Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm là 
đấu tranh chống chế độ Việt cộng trên hai 
lănh vực chính: 

- Đường lối chính sách của Đảng 

- Hệ thống lănh đạo của Đảng 

Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đánh vào đường 
lối chính sách tức là đánh tận gốc Chủ Nghĩa 
Cộng Sản, chĩa mũi dùi vào chủ trương giai cấp 
đấu tranh người bóc lột người, chính sách cải 
cách ruộng đất, chính sách cải tạo công thương 
nghiệp tư bản tư doanh tại thành thị, đồng thời 
tấn công vào liên minh giai cấp đấu tranh giữa 
Việt cộng và Trung Quốc. Một trong những tài 
liệu quan trọng nhất thuộc loại này là cuốn 
"Nắng Chiều" của cụ Phan Khôi, gồm nhiều bài 
bút kư, tạp văn, bị Việt cộng cấm xuất bản, 
may nhờ có Đoàn Giỏi, một cán bộ Đảng đem ra 
mổ xẻ phê b́nh trên báo Văn Nghệ của Đảng số 
15, xuất bản tháng 8-1958, người ta mới biết về 
nó. Sau đó, Đoàn Giỏi đă bị phê b́nh kiểm thảo 
là cố t́nh mổ xẻ chửi bới cụ Phan Khôi nhằm 
mục đích phổ biến tài liệu chống Đảng. Tội 
nặng nhất của cụ Phan khôi được phát hiện 
trong cuốn Nắng Chiều nằm trong các chuyện Nuôi 
vịt ở miền Nam, "Tiếng Chim", "Thái Văn Thu" và 
chuyện Ba Ông Vua Càn Long, Quang Trung và Chiêu 
Thống. 

Trong chuyện "Tiếng Chim", cụ Phan Khôi đă thuật 
chuyện hai con quạ không dành nhau miếng ăn để 
ngụ ư mỉa mai vấn đề đấu tranh giai cấp là 
vấn đề căn bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong 
chuyện Nuôi vịt ở miền Nam, cụ Phan Khôi thuật 
lại cách làm việc và cách sống của chủ và 
người làm thuê đều cực khổ như nhau, đồng 
thời chủ chẳng những trả công cho thợ mà c̣n 
chia hoa hồng cho thợ mỗi khi được mùa, vừa có 
ư ám chỉ rằng cảnh người bóc lột người theo 
quan niệm đấu tranh giai cấp là không hoàn toàn 
có thực mà c̣n có ư ám chỉ Đảng bóc lột 
người hơn những người chủ nuôi vịt. Trong 
chuyện "Ba Ông Vua", Đoàn Giỏi giải thích rằng cụ 
Phan có ư ám chỉ "quan hệ ngoại giao giữa Quang 
Trung và Càn Long ngày xưa không khác ǵ quan hệ 
hữu nghị giữa ta và Trung Quốc ngày nay, một con 
cáo và một con sói đồng t́nh vật chết một con 
dê".(Xem Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, trang 94) 

Ngoài việc đả kích tư tưởng đấu tranh giai 
cấp, căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Phong Trào 
Nhân Văn - Giai Phẩm c̣n kêu gọi mọi người 
đứng lên chống lại chủ nghĩa đó. Trong bài 
"Tiếng Hát", một vở kịch thơ ngắn, Hoàng Cầm 
đă cất tiếng kêu gọi qua tiếng hát của Trương 
Chi: 

Nào người quả phụ trắng khăn tang 
Nào đứa em mồ côi khát sữa 
Nào ai sống nhục chết oan 
Nào ai tan ĺa đôi lứa 
Nghe tiếng hát này... 

để ám chỉ những nạn nhân của cải cách ruộng 
đất, và tiếp theo đó kêu gọi mọi người hăy 
theo "Tiếng gọi của trời cao, của đất rộng" 
quyết "Vượt qua tường đá" của hệ thống kềm 
kẹp áp bức của Việt cô.ng. 

Một mặt chống đường lối chủ trương Đấu 
Tranh Giai Cấp của Đảng, một mặt khác Phong Trào 
Nhân Văn - Giai Phẩm đánh thẳng vào hệ thống 
lănh đạo Đảng gồm có con người và tổ chức. 
Về con người lănh đạo, các văn nghệ sĩ đánh 
từ Hồ Chí Minh trở xuống cho tới các cán bộ 
cao cấp Trung Ương như Trường Chinh, các cán bộ 
lănh đạo văn nghệ như Tố Hữu, Hoài thanh, Xuân 
Diệu mà mọi người gọi là những tên "cai văn 
nghệ". 

Một nhà thơ trẻ là Lê Đạt đă dám ví Hồ Chí 
Minh như cái b́nh vôi: 

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi 
Y như một cái b́nh vôi 
Càng sống càng tồi 
Càng sống càng bé lại 

Cụ Phan Khôi c̣n viết bài "Ông B́nh Vôi" trong Giai 
Phẩm Mùa Thu tập I, với một câu giải thích 
rằng cái b́nh vôi sống lâu "cũng như pho tượng 
đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, 
th́ người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng 
"Ông". Chẳng những cụ đánh thẳng vào Hồ Chí 
Minh mà c̣n đánh luôn những bọn văn nô đă tôn 
thờ sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh nữạ Cụ Phan 
Khôi c̣n chọc quê Hồ Chí Minh là Ông B́nh Vôi v́ 
Hồ Chí Minh đă phạm tội tầy đ́nh trong cuộc 
cải cách ruộng đất, mà c̣n giả đ̣ ù lỳ vô 
trách nhiệm, phủi tay chối tội và bắt Trường 
Chinh chịu tội thay cho ḿnh. 

Bài thơ "Nhất định thắng" của Trần Dần đă 
khiến nhà thơ này bị ngồi tù, bị đấu tố và 
đă dùng lưỡi dao cạo cứa cổ tự tử mà không 
chết. Trần Dần là nhà văn Đảng viên thuộc 
giới trẻ trong Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm, đă 
tham dự trận Điện Biên Phủ, sau đó v́ chống 
Đảng mà bị đi tù ở Việt Bắc. Tới khi dư 
luận chống đối của giới trí thức kháng chiến 
trở nên quá sôi nổi, Trần Dần mới được 
Việt cộng đưa về miền đồng bằng và bắt đi 
theo chiến dịch cải cách ruộng đất. Tiếp theo 
đó xảy ra Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm, Hoàng 
Cầm là bạn của Trần Dần đă đem in một bài 
thơ của Trần Dần vốn được viết từ năm 1954 
với nội dung đấu tranh chống đối, đồng thời 
đề nghị Trần Dần viết thêm một đoạn cho có 
"lập trường tốt" như thế mới được phép 
xuất bản và đặt tên bài thơ là "Nhất định 
thắng". Ngay trong phần đầu có tính chất đấu 
tranh, Trần Dần cũng đánh bằng những đ̣n rất 
kín khiến Việt cộng dù đem ông ra đấu tố, 
cũng chỉ bắt bẻ bâng quơ về cách dùng chữ 
không ổn, "phạm húy". Đọc bài thơ Nhất định 
thắng của Trần Dần, người ta phải đặt ḿnh 
vào khung cảnh 1954 với không khí bàng hoàng của 
Hiệp Định Genève cắt đôi đất nước, hàng 
triệu người nông dân miền Bắc hốt hoảng bỏ 
trốn cộng sản, trong tâm tư họ c̣n hằn vết 
thương đỏ ḷm của đấu tranh Giảm Tô trước 
1954, rồi cảnh gia đ́nh xé đôi v́ người đi Nam 
kẻ ở lại Bắc (người vợ trẻ của Trần Dần 
lạc lơng giữa Hà Nội v́ cha mẹ đă di cư), rồi 
cảnh bộ đội Nam bộ tập kết được sử dụng 
để đàn áp cuộc nổi dậy ở Quỳnh Lưụ Có 
đặt ḿnh vào hoàn cảnh 1954 người ta mới 
mường tượng đọc ra được những ẩn ư lên án 
Hồ Chí Minh chia đôi đất nước bằng cách kư 
Hiệp Định Genève: 

Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc 
Đất hôm nay tầm tă mưa phùn 
Bỗng nhói ngang lưng, máu rỏ xuống bùn 
Lưng tôi có tên nào chém trộm? 
A! Cái lưỡi dao cùn 
Không giết được, mà đau 
Chúng định chém tôi làm hai mảnh 
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh 
Hăy nh́n xem có phải vết daỏ 
Không đứt được mà đau! 
Lưng Tổ Quốc hôm nay rướm máụ 

Và kế đến là cảnh đát nước miền Bắc ngập 
trong điêu linh dưới chế độ mới: 

Tôi bước đi 
không thấy phố 
không thấy nhà 
Chỉ thấy mưa sa 
trên màu cờ đỏ.... 

Rồi bằng những câu hỏi "buộc tội" đối với 
trách nhiệm về phong trào di cư, Trần Dần cầm 
bút chỉ vào Hồ Chí Minh: 

"Họ vẫn ra đi 
Nhưng sao bước ră rờỉ 
Sao họ khóc? Họ có ǵ thất vọng?" 

Và: 

"Ai dẫn họ đỉ 
Aỉ 
Dẫn đi đâủ 
Mà họ khóc măi thôi" 

Và cũng vẫn bằng những câu hỏi làm Việt cộng 
không trả lời được: 

Ai có lư và ai có lực? 
Ai người tin? Ai kẻ ngă ḷng tin? 

Cuối cùng, Trần Dần phang bốn câu làm cán bộ 
lănh đạo văn hóa của Việt cộng hết nhịn nổi: 

Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người 
Người vẫn thường kinh hoảng trước tương lai 
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy 
Người vẫn vội - 
Người chưa kiên nhẫn mấỵ 

Trần Dần bị hạch tội đă dùng danh từ "Người" 
viết bằng chữ lớn xưa nay được cán bộ Việt 
cộng dùng để chỉ Hồ Chí Minh với sự tôn sùng 
tột đô.. Tuy Trần Dần bị bỏ tù nhưng cán bộ 
Việt cộng không dám nói đích danh tội phỉ báng 
Hồ Chí Minh của Trần Dần cũng như của cụ Phan 
Khôị Giống như dưới thời đại "cực kỳ phong 
kiến", riêng việc nhắc tới những lời "khi 
quân" phỉ báng của người khác cũng đủ là một 
sự phạm thượng đại nghịch, và không một tên 
Việt cộng nào dám làm. 

Ngoài việc tấn công tên đầu sỏ của Việt 
cộng, các văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc 
c̣n đả kích hệ thống lănh đạo Việt cộng qua 
tổ chức "Hội các nhà văn", tổ chức Mậu Dịch 
Quốc Doanh, đồng thời đả kích tính chất phi 
pháp của cải cách ruộng đất qua bài tham luận 
của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường mà ta sẽ có dịp 
đề cập tới trong một đoạn khác. 

* Trên đây ta đă tóm lược cuộc đấu tranh 
tiếp theo của Nhân Dân miền Bắc để chống lại 
sự phản bội kháng chiến của Hồ Chí Minh và 
cuộc tàn sát dă man qua Cải Cách Ruộng Đất. 
Phong Trào Nhân Văn - Giai Phẩm tượng trưng cho 
một cuộc nổi dậy có tổ chức và tư tưởng 
chỉ đạo quy mô hơn cả. Tuy nhiênnó cũng có 
nhược điểm quan trọng và đă bị dập tắt sau 
khi Hồ Chí Minh kư một sắc lệnh ngày 15-12-1956 
chính thức hủy bỏ quyền tự do ngôn luận, cấm 
lưu hành tất cả các nhật báo, tạp chí, sách vở 
văn nghệ phẩm chống đốị 

Trước khi kư sắc lệnh bịt miệng văn nghệ sĩ, 
Hồ Chí Minh đă phóng ra một chiến dịch dùng báo 
chí Đảng chụp mũ tội "gián điệp" của Pháp và 
của Mỹ lên đầu nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, tổ 
chức học tập khắp nơi, và cán bộ Đảng thúc 
đẩy các đoàn thể công nông binh, học sinh và 
dân Nam bộ tập kết kư kiến nghị tự xưng là 
"mọi từng lớp nhân dân" đ̣i nhà nước trừng 
trị nhóm Nhân Văn. 

Sau khi bịt miệng văn nghệ sĩ, Việt cộng chỉ cho 
phép báo của Đảng múa vơ một ḿnh. Hội văn 
nghệ của Đảng được chỉ thị cho ra báo Văn. 
Nhưng múa vơ một ḿnh trong một thời gian, báo 
Văn trở nên nhạt nhẽo quá khiến ban chủ nhiệm 
cũng phải cảm thấy nản, và quay ra chống Đảng 
bằng cách đăng những bài của nhóm Nhân Văn Giai 
Phẩm. Việt cộng bèn đàn áp thẳng tay, bắt 304 
văn nghệ sĩ đi chỉnh huấn, sau đó đi "Lao Động 
Cải Tạo" ở những vùng rừng thiêng nước độc 
của Việt Bắc. Hành động bịt miệng và đàn áp 
thẳng tay đối với văn nghệ sĩ đă tạm thời 
chấm dứt một h́nh thức chống đối trên Mặt 
Trận Văn Hóa, nhưng chưa chấm dứt phong trào 
đấu tranh của nhân dân dưới các h́nh thức 
khác. Cuộc đấu tranh phi quy ước giữa Việt 
cộng và các tầng lớp nhân dân bị áp bức c̣n 
đương diễn ra trên Mặt Trận Kinh Tế qua các 
giai đoạn tiếp theo gồm có công hữu hóa ruộng 
đất vườn ao, hợp tác xă cấp thấp, hợp tác 
xă cấp cao,v.v... 

Các cuộc đấu tố của giai đoạn đă qua cho tới 
năm 1956 mới chỉ là Màn I của tấn kịch cải cách 
ruộng đất.Giai đoạn đấu tranh từ 1951 đến 
1956 đưa tới vụ sửa sai và Phong Trào Nhân Văn - 
Giai Phẩm có một số đặc điểm rất điển 
h́nh đáng cho ta ghi chép lại đâỵ

Home                                            Xem tiếp -->