3. Hệ Thống Tổ Chức Các Nông Trường, Công
Trường
Mặc dầu các nông trường, công trường quốc
doanh là do quân đội xây dựng và quản trị, nhưng
các nông trường đều do một bộ nông trường
chỉ huy trên phương diện chính quyền, và các
Đảng uỷ trong nông trường th́ chịu sự lănh đạo
trực tiếp của Tỉnh uỷ chứ không ở dưới sự
lănh đạo của Huyện uỷ địa phương, mặc dầu
trên phương diện địa dư nó có thể nằm trong
phạm vi một huyện. Ví dụ nông trường Rạng Đông
thuộc phạm vi địa dư và hành chánh huyện Nghĩa
Hưng, tỉnh Nam Định, th́ Đảng uỷ nông trường
chịu sự điều khiển của tỉnh uỷ Nam Định, mặc
dầu trong những vấn đề hành chánh th́ cũng có
liên lạc hội ư với cơ quan hành chánh địa
phương của huyện Nghĩa Hưng.
Những nông trường hoặc công trường tùy theo
phạm vi lớn nhỏ phải sử dụng ít hoặc nhiều
công nhân, hoặc phải dùng cơ giớị Ví dụ khu
Liên hợp Gang Thép Thái Nguyên là một công
trường đại quy mô có tới 20.000 nhân công. Nông
trường Rạng Đông là một nông trường trung quy
mô, c̣n gọi là nông trường loại II, sử dụng
khoảng 2500 cán bộ và công nhân (từ 2.500 đến
5.000 nhân công là trung quy mộ Theo tài liệu phỏng
vấn các hồi chánh viên, hệ thống tổ chức của
một nông trường điển h́nh có thể được mô
tả theo sơ đồ dưới đây của nông trường Rạng
Đông. (xem sơ đồ)
Nông trường trung quy mô nói trên có một Giám
đốc và 2 Phó giám đốc, dưới sự lănh đạo
của một bí thư Đảng uỷ với cấp bậc Đại úy
hoặc Thiếu tá trong quân độị Quân hàm của Phó
giám đốc là Thượng úỵ
Bên công đoàn có một thư kư công đoàn cấp
bậc Thượng úy và 2 thư kư công đoàn cấp bậc
Trung úy có nhiệm vụ giám sát kiểm tra từ Giám
đốc xuống đến công nhân, mặc dầu trên danh
nghĩa là để bảo vệ quyền lợi công nhân.
Tổ Chức Công Đoàn Trong Nông Trường
Công đoàn là tổ chức hàng dọc để đoàn ngũ
hoá mọi công nhân không phải là đảng viên, và
như vậy, không có một công nhân nào thoát ra
khỏi màng lưới của đảng và nhà nước.
Danh từ Công Đoàn khiến nhiều người bên ngoài
nhầm lẫn với Công Đoàn của các nước tự do
nhằm bảo vệ quyền lợi của công nhân, hoặc
trong một số trường hợp bảo vệ quyền lợi
riêng của một bọn đầu nậụ Dưới chế độ
Việt cộng, bọn đầu nậu chính là đảng, và
đảng kiểm soát công nhân một cách chặt chẽ qua
Công Đoàn và hệ thống Đảng ủỵ
Tổ Chức Đảng Ủy Trong Nông Trường
Giống như trong hợp tác xă nông nghiệp hay bất
cứ một tổ chức quy mô nào của cộng sản, Đảng
ủy giống như hệ thống thần kinh nối liền cấp
chỉ huy xuống tới mọi thành phần nhỏ nhất là
một đội hoặc một tổ sản xuất. Đảng ủy từ
cao xuống thấp có tên gọi là Chi ủy, Chi bộ,
Liên tổ đảng và Tổ đảng, có nhiệm vụ lănh
đạo, giám sát, làm đầu tàu gương mẫu để
thúc đẩy và bắt buộc công nhân lao động sản
xuất. Cũng giống như trong hợp tác xă nông
nghiệp, "làm việc tại đồng, phân công tại sở",
trong nông trường quốc doanh cán bộ có nhiệm vụ
thi công, tức là thi hành công tác bằng cách chỉ
tay năm ngón phân phối công việc, c̣n công nhân
đổ mồ hôi và sức lao động xuống nông
trường. Về t́nh trạng bóc lột công nhân trong
các nông trường và công trường, ta sẽ có dịp
nghiên cứu một cách chi tiết trong tương lai, khi
nói về những nỗ lực đẩy mạnh chiến tranh của
Việt cô.ng.
IỊ Xây Dựng Các Công Tŕnh Sản Xuất ChiếN
Lược, Cơ Sở Quân Sự Và Xa Lộ Chiến Lược
Đầu tháng 9 năm 1960, Đại Hội Đảng Lao Động
Việt cộng lần thứ III họp tại Hà Nội để
thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhằm
xây dựng một nền công nghiệp làm "cơ sở vật
chất của xă hội chủ nghĩa", mà căn bản là
chiến tranh bành trướng.
Bắt đầu từ năm 1961 trở đi rất nhiều xí
nghiệp kỹ nghệ được thiết lập, và các nhà
máy này được xây dựng chung quanh các khu công
nghiệp quan trọng nhất sau đây:
- Khu công nghiệp Hà Nội
- Khu công nghiệp Hải Pḥng
- Khu công nghiệp Việt Tŕ (khánh thành ngày
18-1-1962)
- Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên
1. Sản xuất chiến lược
Nằm trong mục tiêu chiến lược dài hạn, ngành
công nghiệp nặng được chú trọng đặc biệt.
Với sự giúp đỡ của Liên Xô và khối cộng
sản, Việt cộng đă đẩy mạnh việc sản xuất
điện lực, khai thác than đá và luyện thép.
Các nhà Máy Điện quan trọng nhất là:
Nhà máy thủy điện Bàn Thạch, Thanh Hóa (khánh
thành ngày 2-1-1962)
Nhà máy thủy điện Thác Bà, Bắc Kạn
Nhà máy nhiệt điện Uông Bí, Hồng Quảng
Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, Thái Nguyên
Nhà máy nhiệt điện Cọc 5, Cẩm Phả
Nhà máy nhiệt điện Lào Kay
Nhà máy nhiệt điện Việt Tŕ
Nhà máy nhiệt điện Hà Nội
Nhà máy nhiệt điện Vinh
và một trạm biến điện lớn nhất miền Bắc
tại Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, với đường
giây điện cao thế Đông Anh Thái Nguyên, khánh
thành ngày 5-1-1963.
Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc
viện trợ là một kỳ vọng của Việt cộng cho
nền công nghiệp nặng và nền kinh tế tự túc
và chiến lược. Khu gang thép dùng 20.000 công nhân
làm việc ngày đêm, và năm 1965 mức sản xuất
lên tới 150,000 tấn. Ngày 20-12-1963 Việt cộng
khánh thành ḷ luyện thép đầu tiên tại Thái
Nguyên. Ngày 23-9-1965, ḷ luyện thép số II được
khánh thành.
Song song với nền công nghiệp gang thép là việc
khai thác than đá tại khu vực Ḥn Gay, Đông
Triều, Cẩm Phả, Vàng Gianh, Thái Nguyên phần lớn
là loại anthracite (năng xuất nhiệt rất cao) và
số lượng sản xuất năm 1965 đă lên tới
4.000.000 tấn.
Vẫn trong phạm vi mục tiêu chiến lược lâu dài,
Việt cộng thiết lập những ngành sản xuất có
tính chất lưỡng thể, cần thiết trong thời
b́nh cũng như thời chiến:
- Các nhà máy phân đạm Hà-Bắc: Trong thời b́nh,
các nhà máy này yểm trợ cho canh nông, c̣n trong
thời chiến chỉ cần thay đổi công thức hóa học
một chút để sản xuất thuốc nổ.
- Các nhà máy cơ khí: nhà máy cơ khí Hà Nội,
nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy cơ khí xe
lửa Gia Lâm, nhà máy cơ khí Lương Yên, nhà máy
sửa chữa xe hơi "1 tháng 5", nhà máy cơ khí ZK
120. Để phục vụ chiến tranh các nhà máy có thể
sản xuất vơ khí, vỏ lựu đạn, vỏ ḿn, một số
phụ tùng thay thế cho đại bác, xe tăng v.v....
Cải cách ruộng đất Miền Bắc (8)
2. Sản xuất hàng tiêu thu..
- Có lẽ Hà Nội nghĩ rằng với sách lược chiến
tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng, các nước
chống cộng không có lư do can thiệp mạnh tới
mức độ oanh tạc Miền Bắc và tàn phá nền kỹ
nghệ của cộng sản. V́ thế Hà Nội đă xây
dựng hàng loạt những nhà máy sản xuất đồ tiêu
thụ (danh từ Việt cộng gọi là hàng tiêu dùng)
để cho các cấp cán bộ đảng được ưu đăi
sử dụng theo "phiếu cung cấp", c̣n công nhân viên
phải là những người xuất sắc trong những
người xuất sắc nhất mới được rút thăm (danh
từ Việt cộng gọi là "b́nh bầu chiến sĩ thi
đua") để mua trong những dịp đặc biệt. Những
nhà máy này tập trung ở những khu vực quan trọng
dưới đâỵ
- Khu Hải Pḥng: Nhà máy len, nhà máy đồ hộp,
nhà máy hóa chất, nhà máy thủy tinh.
-Khu công nghiệp Việt Tŕ: Nhà máy hoá chất, nhà
máy ḿ chính, nhà máy giấy, nhà máy đường, nhà
máy sấy chuối khộ
-Khu công nghiệp Hà Nội: Nhà máy phích nước,
bóng đèn, nhà máy Cao-Xà-Lá (cao su, xà pḥng,
thuốc lá) do Trung Quốc viện trợ và được
khánh thành ngày 18-5-1960; nhà máy dệt kim Đồng
Xuân (dệt áo lót và bí tất) do Trung Quốc viện
trợ, khánh thành ngày 13-4-1959; nhà máy xe đạp
Thống Nhất, nhà máy Pin Văn Điể^n tà máy in
Tiến Bộ, nhà máy diêm Thống Nhất v.v....
3. Những công tŕnh xây cất chiến lược.
Ngoài những nhà máy sản xuất vơ khí như công
trường 14 ở Tuyên Quang (sản xuất súng AK mang
nhăn hiệu Trung Quốc, lựu đạn, súng đại bác,
ḿn) Việt cộng xúc tiến mạnh mẽ những công
tŕnh chiến lược có tính cách quan trọng như sân
bay, đường chiến lược với sự giúp đỡ của
Liên Xô và Trung Quốc. Tại mỗi tỉnh của miền
Bắc ngày nay đều có một phi trường chiến
lược dành riêng cho mục tiêu quân sư.. Ngoài
những phi trường quan trọng có từ trước như
sân bay Cát-Bi, sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm,
được mở rộng, Việt cộng c̣n xây cất thêm
các phi đạo quan trọng khác như:
- Sân bay Đa Phúc (Vĩnh Yên)
- Sân bay Ḥa Lạc (Sơn Tây)
- Sân bay Kép (Bắc Giang)
- Sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa)
Nguyễn Văn Thân, kỹ sư thủy lợi nói về phi
trường Đa Phúc tại Vĩnh Yên:
"...Tôi biết rơ nhất là sân bay Đa Phúc v́ sân
bay này ở ngay cạnh đập Đại Lăị Khi bộ Giao
thông Vận tải thiết kế sân bay này cũng có tham
khảo ư kiến của tôị Theo như họ nói th́ sân bay
Đa Phúc là sân bay chiến lược lớn nhất Đông
Nam Á, có thể chứa được từ 500 tới 700 phi cơ
phản lực Mig, tuyệt đối không có máy bay vận
tải tại đâỵ Phi trường này rộng một chiều 12
km và một chiều 9km. Nằm theo trục quốc lộ số
2 và số 3. Đường bay được làm rất kỹ với
các lớp đệm cát rất dày và mặt đường bay
được lát bằng tấm bê tông dày từ 50 phân
tới 70 phân. Bởi v́ làm bằng các tấm bê tông
như vậy nên khi bị đánh phá hư hỏng trong các vụ
oanh tạc của Mỹ ở miền Bắc, phi trường được
sửa chữa và sử dụng lại mau chóng bởi v́ đă
có sẵn các tấm bê tông. Hơn nữa phi trường Đa
Phúc ở cạnh núi Sóc Sơn nên có nhiều hầm hố
kiên cố do Nhật để lại, nay Việt cộng dùng
để chứa nhiên liệu hoặc cất dấu máy bay rất
kín đáo..." (Nguyễn Văn Thân). Về đường bộ
có việc xây cất hai con đường chiến lược quan
trọng do Trung Quốc thiết kế và thi công:
"...Đường thứ nhất là đường từ biên giới
Trung Quốc qua các tỉnh Bắc Kạn, Bắc-Thái (Bắc
Giang và Thái Nguyên) đường rộng từ 18 thước
tới 24 thước, không tráng nhựa mà trải đá lớn
dầy 50 phân rồi đổ đá dăm và đất Biên Ḥa
cán bằng. Nói tóm lại các tỉnh ven biên giới
Việt Nam-Trung Quốc đều do Trung Quốc đài tho..
Các đường này đều được mở cấp tốc từ
khoảng năm 1961-1962, và có thể chịu đựng được
các chiến xa nặng khoảng 70 tấn".
Con đường chiến lược lớn thứ hai là đường
lộ từ Trung Quốc qua biên giới Việt Nam đến
Điện Biên Phủ rồi sang Lào tới Cánh đồng Chum,
Savanakhet. Đường này đă có từ trước, nay chỉ
làm công tác mở rộng và đảm bảo lại cho chắc
chắn, kỹ càng hơn..." (Nguyễn Văn Thân). Theo kỹ
sư Nguyễn Văn Thân th́ con đường chiến lược
Điện Biên Phủ tới cánh đồng Chum và Savanakhet
đă có từ trước, nhưng đương sự không cho
biết có từ bao giờ. Hệ thống này không thể
là hệ thống quốc lộ số 13 v́ quốc lộ này
nằm trong khu vực quân đội Hoàng gia Lào, khiến
cho Việt cộng không thể sử dụng thường xuyên
cho những đoàn xe vận tải như thực tế đă
chứng tỏ. Ở một đoạn khác, Nguyễn Văn Thân
nói rơ con đường chiến lược này song song với
đường ṃn thượng đạo (sách báo Tây phương
quen gọi là đường ṃn Hồ Chí Minh) v́ trong khi
đi đường vẫn nghe thấy tiếng xe ô tô di
chuyển gần đó. Nhưng đương sự lại gọi lầm
đường đó là đường số 9 đưa đến Khe Sanh
bởi v́ đường số 9 băng ngang từ Việt Nam qua
Lào tới Savanakhet, chứ không chạy song song với
đường ṃn thượng đạo dọc biên giới Việt
Làọ
Ngoài ra Nguyễn Văn Thân không nói đến con
đường chiến lược từ Bắc Việt băng qua khu
Bắc Lào sang Thái Lan.
Home
Xem tiếp -->